Hội nghị BCHTƯ 12 vừa kết thúc với thành công tốt đẹp. Trong hội nghị này vấn đề quan trọng nhất và cũng là vấn đề được toàn dân quan tâm nhất là vấn đề nhân sự của ban lãnh đạo mới của Đảng. Do ĐCSVN là đảng duy nhất nắm toàn bộ quyền lực trên chính trường VN nên chất lượng của ban lãnh đạo mới có vai trò quyết định đối với vận mệnh của Đất nước trong nhiệm kì tới. Vậy nên những người yêu nước, quan tâm đến vận nước không thể không quan tâm, theo dõi vấn đề này. Nhiều dự đoán đã được đưa ra và đây là một trong số đó.
Ngày
11/10/2015, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) Đảng CSVN lần thứ
12 – khóa 11 sẽ bế mạc, với vấn đề quan trọng nhất là chuẩn bị nhân sự
cao cấp cho Đại hội Đảng lần thứ 12 vào đầu năm 2016 đã được Ban CHTW
thông qua. Dưới đây là một số thông tin ghi nhận được bên lề Hội nghị
Trung ương 12 từ các nguồn tin.
Vấn
đề nhân sự ai ở, ai đi hay chuyện cơ cấu nhân sự cho Đại hội Đảng 12
của các chuyên gia là chuyện dự đoán trên cơ sở thu thập các thông tin
từ những nguồn tin là người trong cuộc, ở đây là các quan chức cao cấp
trong đảng. Độ tiếp cận các thông tin ở mức càng cao bao nhiêu thì độ
xác thực của các thông tin đưa ra càng chính xác bấy nhiêu.
Các
phân tích gần đây của ông Lê Hồng Hiệp và giáo sư Carl Thayer (Úc) đều
có một đánh giá chung cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đang ở thế thượng
phong so với các đối thủ chính trị khác và hy vọng cho ông Nguyễn Tấn
Dũng ở cái ghế tổng bí thư đảng CSVN.
Tuy vậy tất cả đều là sự phỏng đoán, vấn đề các vị trí nhân sự quan trọng nhất sẽ do BCHTW quyết định.
Nhiệm
vụ trọng tâm của công tác nhân sự trong Hội nghị BCHTW 12 sẽ là: thông
qua phương án đối với các trường hợp nhân sự đặc biệt của Bộ Chính trị
và BCHTW cần thiết cho khóa 12; chốt cơ cấu của Bộ Chính trị là 17 hay
19 thành viên và xem xét việc tăng số lượng các Ủy viên BCHTW; dự kiến
danh sách các thành viên của 2 cơ quan lãnh đạo này; dự kiến nhân sự cho
các chức danh chủ chốt – tứ trụ để các thành viên thảo luận.
Được biết, Bộ Chính trị đã trình BCHTW 3 phương án nhân sự chủ yếu để cho Ban CHTW bàn bạc như sau:
1. Phương án 1: Đảm bảo tính kế thừa
Việc
lựa chọn một đồng chí có kinh nghiệm điều hành quản lý sẽ nắm chức vụ
Tổng Bí thư Đảng sau Đại hội 12 là yêu cầu hết sức cần thiết và phù hợp
với tình hình trong gia đoạn mới. Tuy vậy, để đảm bảo tính chuyển tiếp
và kết thừa thì cũng cần thiết một phương án phù hợp, đặc biệt là quan
hệ đối ngoại.
Độ
tuổi của các Ủy viên Bộ Chính trị không quá 63 tuổi (sinh năm 1953),
đây là yêu cầu được đưa ra từ số đông các Ủy viên Trung ương được cho là
thuộc phe của ông Dũng:
Dự kiến:
TBT: Nguyễn Tấn Dũng; TT: Trần Đại Quang; CTN: Nguyễn Thiện Nhân; CTQH: Nguyễn Thị Kim Ngân
3. Phương án 3: Lựa chọn theo quy định
Trong
trường hợp các nhân sự đặc biệt không được BCHTW thông qua, thì phương
án nhân sự sẽ được thực hiện theo đúng quy định và BCHTW bầu theo điều
lệ của đảng trên cơ sở các nhân sự của Bộ Chính trị trình BCHTW.
Dự kiến:
TBT: Trần Đại Quang; TT: Nguyễn Xuân Phúc; CTN: Nguyễn Thiện Nhân; CTQH: Nguyễn Thị Kim Ngân
Phương
án nhân sự do Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành trung ương trong Hội
nghị BCHTW Đảng lần thứ 12 để thảo luận cũng chỉ là đường hướng mà Hội
nghị BCHTW 12 lần này chốt lại ở mức sơ bộ.
Điều này sẽ còn được bàn bạc ở các Hội nghị BCHTW tiếp theo nếu cần thiết.
Theo
nguồn tin cho biết, thì các vị như ông Trần Đại Quang, ông Nguyễn Xuân
Phúc, ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Nguyễn Thị Kim Ngân sẽ là ứng viên cho
4 chức vụ quan trọng.
Số lượng Ủy viên Bộ Chính trị sẽ là 17 người.
Dự kiến các Ủy viên Bộ Chính trị khóa 11 ở lại khóa sau chỉ còn 8/16 vị.
Các
ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa, Lê Hồng Anh, Trương
Tấn Sang, Ngô Văn Dụ, Phùng Quang Thanh, Lê Thanh Hải sẽ nghỉ.
Danh
sách bổ xung sẽ bao gồm: Đỗ Bá Tỵ, Ngô Xuân Lịch, Phạm Minh Chính, Võ
Văn Thưởng, Tô Lâm, Đinh Tiến Dũng, Trịnh Đình Dũng, Nguyễn Hòa Bình và
Phạm Bình Minh.
Điều đáng nói là ông Vũ Đức Đam không có tên trong danh sách dự kiến này.
Lâu
nay, ban lãnh đạo Việt nam tiến hành quản lý theo phương thức lãnh đạo
tập thể, tập thể cùng quyết và cùng chịu trách nhiệm đã dẫn đến tình
trạng vai trò của Bộ Chính trị và Tổng Bí thư đã khá lu mờ, do sự bất
đồng nội bộ. Do đó mọi vấn đề lớn và quan trọng cho đến nay đều phải
được đưa ra bàn bạc tại Hội nghị BCHTW. Lối làm việc này dẫn đến tình
trạng trong Bộ Chính cá mè một lứa, không ai bảo được ai, đây chính là
nguyên nhân khiến cho các quyết định từ cơ quan cao nhất không có hiệu
lực.
Từ
đó có ý kiến thấy rằng quyền lực trong đảng cần phải được tập trung
trong tay một người thì sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Tuy vây, phương án này
đã không được thống nhất trong Bộ Chính trị, với lý do sẽ dẫn tới tình
trạng lãnh đạo độc đoán như trường hợp Tổng Bí thư Lê Duẩn trước đây.
Tuy vậy đa số Ban CHTW lại ủng hộ phương án này, đó là phương án Tổng Bí
thư kiêm chức vụ Chủ tịch nước theo mô hình Trung quốc.
Đánh
giá chung của Hội nghị Trung ương 12 là phe cải cách của Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng có ưu thế vượt trội và áp đảo, dù rằng có tin cho rằng
ông Nguyễn Tấn Dũng tỏ ra mệt mỏi. Song cơ cấu nhân sự có quá nhiều
những nhân vật vốn xuất thân từ ngành Công an là một điểm mờ cho ban
lãnh đạo khóa tới.
Tin giờ chót: Nhân
sự cho các chức danh “tứ trụ” và đặc biệt là chức danh Tổng Bí Thư cũng
chưa được chốt lại lần cuối và sẽ tiếp tục được bàn bạc thêm.
Mấy hôm nay LUSONQUELAM tập trung sự quan tâm vào vấn đề Nga tiến hành không kích lực lượng IS(?) ở Syria. Ở trong nước Đại hội XII của ĐCSVN đang đến gần cũng đang nhận được sự quan tâm rất lơn của mọi tầng lớp nhân dân. Ban Chấp hành TW đang họp bàn về Đại hội. Việc đóng góp ý kiến cho bản dự thảo báo cáo chính trị tại đại hội hình như cũng đang được tiến hành song không mấy sôi nổi. Tuy lác đác nhưng có những ý kiến rất đáng quan tâm, thể hiện tâm huyết cũng như trí tuệ của những người đóng góp. Dưới đây xin giới thiệu một trong số đó mà bản thân tôi thấy tâm đắc.
"Tôi bàng hoàng tự hỏi: Chẳng lẽ đây là người VN ta?’Cập nhật :
01:00 05/10/2015
"Cái mà chúng ta chưa làm được lớn nhất không phải là phát triển kinh tế mà là việc xây dựng con người"
TS.Lê
Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn, chia sẻ cùng Tuần Việt Nam những
trăn trở của ông về vấn đề con người trong dự thảo báo cáo chính trị của
BCH TW khóa XI cho Đại hội khóa XII.
TS. Lê Kiên Thành. Ảnh: Minh Trí/ Một thế giới
Cái chưa làm được lớn nhất là xây dựng con người Nhà báo Duy Chiến: Thưa ông, xuất thân từ gia
đình truyền thống, với tư cách là một đảng viên, một doanh nhân, chắc
ông đã nghiên cứu dự thảo báo cáo chính trị của BCH TƯ Đảng Đại hội 12.
Điều ông quan tâm nhất trong báo cáo này là gì? TS. Lê Kiên Thành:
Báo cáo chính trị là sự tổng kết, đánh giá kết quả những gì chúng ta đã
làm trong 5 năm qua một cách toàn diện, cả được và chưa được. Những năm
vừa qua, nhìn nhận và quan sát sự vận hành của xã hội ta, cái tôi quan
tâm nhất, đó là con người. Chương 7 “Phát triển văn hóa và xây dựng con người” của báo cáo đã có nhận định
tình hình chung và đánh giá về công tác này. Trong 6 nhiệm vụ trọng tâm thì
nhiệm vụ thứ 6 cuối cùng cũng nói tới phát huy nhân tố con người. Như vậy,
chương 7 và “nhiệm vụ thứ 6 trong 6 nhiệm vụ” đề cập đến xây dựng con người. Và
đây là phần tôi quan tâm, lo lắng, ưu tư nhất trong tình hình xã hội
của chúng ta giai đoạn hiện nay. Bởi vì, suy cho cùng thì “nguyên nhân
của mọi nguyên nhân”, thành hay bại, cũng do yếu tố nhân tố con người
quyết định. Chúng ta phải hiểu rằng rất nhiều điều chúng ta chưa làm
được là do chúng ta chưa xây dựng được con người cần thiết.
Phần ghi nhận và đánh giá về con người và văn hóa trong dự thảo đã đề cập, ông thấy chưa đầy đủ và chưa thỏa đáng như thế nào? TS Lê Kiên Thành: Nhìn
vào xã hội chúng ta đang sống trong những năm vừa qua, với cách đánh
giá và xác định nhiệm vụ “xây dựng con người” ở vị trí cuối cùng trong 6
nhiệm vụ quan trọng này, theo tôi, dự thảo đã đặt ở vị trí không thỏa
đáng. Trong
khi đó, cái mà chúng ta chưa làm được lớn nhất, đáng lo nhất trong thời
gian vừa qua không phải là ở kinh tế, mà ở việc xây dựng con người! Tôi
xin nói thẳng đó là sự thất bại, chứ không phải sự sự xuống cấp, suy
đồi, như trong dự thảo! Có
lẽ chưa bao giờ hình ảnh dân tộc ta đang bị xuống cấp vô cùng trầm
trọng như hiện nay. Theo dõi truyền thông có thể thấy trong không ít vụ
án kẻ sát nhân xuống tay với nạn nhân quá dễ dàng, đơn giản. Một con
người chưa bao giờ phạm tội ác có thể giết một lúc 4 người, có cả trẻ
em, mà không có mảy may gợi nên chút sợ hãi. Hay cháu giết bà nội, con
có thể giết cha... Điều
đó nói lên cái gì? Đó là, chúng ta đang hủy hoại tài nguyên lớn nhất,
sức mạnh lớn nhất, quyết định nhất là con người! Đáng lo nhất là trong
dự thảo báo cáo chính trị không có một hướng nào để giải quyết. Hồi
xưa Bác Hồ có nói: “Muốn xây dựng CNXH thì phải có con người XHCN”. Tuy
nhiên, tôi có cảm giác như chúng ta chưa tự tin vào chính mình, chưa
dám đặt ra định hướng cho dù CNXH còn lâu mới đến. Chúng ta đang xây
dựng con người mà chính cái xã hội đó chưa hình thành, chưa tồn tại, vậy
chúng ta có thể làm được điều đó không? Được
chứ! Cho dù CNXH chưa đến, nhưng chúng ta vẫn hình dung được những tố
chất của những con người của xã hội mới đó. Muốn như thế thì những con
người đó phải bảo tồn cho được những tố chất truyền thống của dân tộc đã
từng tôi luyện qua bao nhiêu năm, đồng thời con người đó phải biết hấp
thụ những tinh hoa của thời đó. Đó là con người gì? Trong dự thảo hoàn
toàn còn thiếu định hướng đó. Chừng nào ta chưa nói được điều đó thì tất
cả những mâu thuẫn xã hội hiện nay chưa giải quyết được! Tóm
lại, rõ ràng con người và những vấn đề về con người phải được đặt lên
hàng đầu, chứ không phải vào vị trí cuối cùng như trong dự thảo!
Những phẩm chất cao đẹp, nhân văn đã đi đâu?
Thưa
ông, con người và tài nguyên con người, sức mạnh lớn nhất của Việt Nam
chúng ta theo quan điểm của ông, họ như thế nào? Ông có thể phác họa vài
nét về hình hài con người đó? TS Lê Kiên Thành: Có
thời điểm người nước ngoài nhận định về xã hội ta là “Ra ngõ gặp anh
hùng”. Đó là sự thật và không phải ta tự nói về ta. Nhà báo nổi tiếng Úc
Uyn-phret Bơc-sét nhìn thấy hình ảnh cô du kích áp giải phi công Mỹ đã
thốt lên: “Súng thì dài hơn người, chiến công thì nhiều hơn tuổi”! Con
người VN có thời điểm lịch sử bừng sáng đến như vậy, nhờ vậy đã giải
quyết được những vấn đề rất lớn mà lịch sử đặt ra cho dân tộc VN vào thế
hệ đó. Đó
không phải là những con người duy ý chí, không thật. Họ hoàn toàn thật,
sống vì gia đình con cái chứ không phải quên hết tất cả. Chúng ta hoàn
toàn có cơ sở để tin rằng chúng ta có thể hoạch định chiến lược vừa giữ
gìn vừa xây dựng được lớp con người mới VN. Cái mới này phải hoàn toàn
mang tính chất của người VN cũ là yêu thương dân tộc, hàng xóm, con
người và say mê lao động, có trách nhiệm với đất nước.
Sức mạnh lớn nhất, quyết định nhất là con người. Ảnh minh họa
Vào
những năm 1970 – 1971, tôi đã từng chứng kiến cuộc giải tù bình Mỹ từ
Hỏa Lò ra sân vận động Hàng Đẫy làm cuộc mít tinh. Hai bên đường nhân
dân đứng rất đông. Khi đoàn tù bình đi qua không một tiếng chửi bới,
không có gạch đá ném. Người ta nhìn đám tù binh đi trong im lặng. Thỉnh
thoảng có người hét to: “Đả đảo đế quốc Mỹ” một cách rất tự phát.Quay
lại tính nhân văn của dân tộc, tôi cứ băn khoăn mãi. Hôm trước mở báo ra
tôi cứ bị ám ảnh hình ảnh hai ông già đi ăn trộm gà bị bắt, bị đánh hộc
máu mồm ra, rồi bắt ngậm con gà chết. Tôi cứ bàng hoàng, tự hỏi: “Chẳng
lẽ đây là người VN chúng ta?” Sau
nghĩ lại tôi thấy tự hào về dân tộc mình: Chúng nó đã giết bao nhiêu
người, trong đó có nhiều người thân của những người đang đứng hai bên
đường. Vậy mà chỉ nhìn chúng đi qua, vừa khinh rẻ, coi thường, nhưng vừa
rộng lượng. Con người VN lúc ấy rất đàng hoàng, văn minh, nhân ái, rộng
lượng, và chính trên tư thế ấy chúng ta mới thắng Mỹ được. Thế
thì những con người ấy giờ đâu rồi? Những phẩm chất cao đẹp, nhân văn
với cả kẻ thù của mình giờ đã đi đâu? Chúng ta chưa làm được nhiều về
vật chất thì chúng ta phải giữ được những phẩm giá tuyệt vời như thế. Và
không chỉ giữ được mà còn phải nhân ra. Đảng
ta đang khẳng định sự lãnh đạo của mình thì Đảng phải xông vào việc đó,
chứ không thể chỉ có vài ý kiến nhạt nhòa như trong dự thảo. Đó là tôi
chưa nói về những tiêu chí liên quan đến con người cũng rất quan trọng.
Đó là tiêu chí gì, thưa ông? TS Lê Kiên Thành: Đó là tiêu chí thất nghiệp và chỉ tiêu giải quyết công ăn việc làm cho con người. Việc
con người có việc làm ảnh hưởng sâu rộng đến con người, không chỉ đến
đời sống mà ảnh hưởng tới toàn thể con người, kể cả đạo đức, tinh thần,
văn hóa và quyền con người. Con người có quyền rất lớn là quyền được lao
động để mà sinh sống. Cho nên đối với các đảng cầm quyền, một trong
những mục tiêu của họ là sẽ đưa chỉ số thất nghiệp từ bao nhiêu xuống
bao nhiêu. Thất
nghiệp nói lên cái gì? Đó không chỉ là nhu cầu sống mà còn là an ninh
xã hội. Vừa rồi tất cả các chuyện xảy ra tôi cho rằng phần lớn chúng ta
chưa đáp ứng được quyền của con người, tức quyền có công ăn việc làm. Từ
đó gây ra chuyện xuống cấp về con người. Sự
xuống cấp của quan chức là ở góc độ khác. Bởi họ được tiếp cận với quá
nhiều quyền lợi mà không giữ bản thân. Còn xuống cấp trong xã hội nói
chung vì quá nghèo khổ, không có công ăn việc làm. Hiện
nay tỷ lê thất nghiệp của VN là bao nhiêu? Chúng ta chưa có con số
chính xác và chính thức, nhưng cá nhân tôi nghĩ, thất nghiệp không dưới
15 – 17%. Và chưa bao giờ tỷ lệ thất nghiệp và chỉ tiêu giải quyết công
ăn việc làm được đưa báo cáo của Chính phủ hay báo cáo chính trị của
Đảng như thế này. Từ cái không đúng cơ bản này sinh ra vô vàn những vấn
đề khác. Thực
ra những cái đó nếu Đảng lãnh đạo được thì vai trò của Đảng mới thể
hiện rõ. Từ trước đến nay chúng ta tác động rất mạnh vào con người để
huy động sức người, sức của cho cuộc chiến tranh mà sự chênh lệch vật
chất rất lớn giữa một bên là nước Mỹ một bên là VN. Cái gì để đẩy sức
mạnh vật chất lên ngang tầm để thắng Mỹ? Người
ta đã tổng kết muôn đời rồi, không thể dùng tinh thần thắng vật chất
được mà phải vật chất thắng vật chất. Vậy cái gì ở VN trong thời điểm đó
đẩy cái vật chất bé nhỏ này thành vật chất lớn để chọi lại vật chất
khổng lồ kia? Tinh thần chỉ nằm một phần trong khái niệm đó thôi. Để làm
được điều đó thì phải cho tất cả quyện lại với nhau tạo ra lượng vật
chất thật để chống chọi. Trong
công cuộc xã hội mới này nếu chúng ta làm được như vậy thì cũng có thể
từ thu nhập thấp đẩy chất lượng cuộc sống lên tầm cao như chất lượng
cuộc sống của những nước có thu nhập cao. Khi chúng ta đổi mới, thì việc
đụng đến con người mới XHCN là tránh né, ngại đề cập, xem nó như cổ hủ,
lỗi thời. Nếu chúng ta xây dựng được con người XHCN trong nền kinh tế
thị trường này thì đó mới là định hướng thật, là sự khẳng định có định
hướng XHCN. Con
người XHCN làm chủ kinh tế thị trường, tại sao không? Đó mới là sự khác
biệt của chúng ta thật sự. Chính phủ lo về phát triển kinh tế, còn Đảng
phải lo về con người, xây dựng con người. Nắm được con người là nắm
được cốt lõi của vấn đề, nắm được tất cả và chi phối được điều chúng ta
muốn khẳng định là định hướng XHCN. Không thể khác được! >> Xem tiếp Kỳ 2:‘Phải bắt đầu ngay từ đảng viên chức vụ cao’ Duy Chiến
TS. Lê Kiên Thành sinh năm 1955, là con trai của cố TBT Lê
Duẩn.Ông tham gia quân đội rất sớm, từ năm 1972, vào Đảng năm 1976. Từ
năm 1990, ông đã nghỉ công tác tại cơ quan nhà nước để tham gia làm kinh
tế tư nhân. Ông từng là Chủ tịch HĐQT ngân hàng Techcombank. Hiện nay
ông Chủ tịch HĐQT Công ty CP xây dựng và phát triển đô thị, Tổng giám
đốc công ty Thiên Minh….
Có một điều mà tôi ( chủ blog này ) chưa hoàn toàn tán đồng với tác giả là khái niệm về "con người XHCN". Chúng ta hiện đang có khái niệm nền KT thị trường theo định hướng XHCN mà không ai rõ nội hàm của nó là gì. Không rõ nội hàm mà vẫn cố thêm vào là sự bảo thủ,rất hàm hồ và rất có hại. Nó tựa như tạo ra một đám sương mù phía trước làm mất phương hướng của người đi. Thay cho khái niệm này là khái niệm về "con người Việt nam mới" với những phẩm chất như tử tế, yêu nước, năng động, cầu tiến....rất cần thiết để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam thân yêu.
Xem thêm tọa đàm với GS Trần Ngọc Thêm về 30 năm đổi mới nhìn từ Văn hóa:
Ở Thủ đô Hoa kì các tòa nhà không được cao hơn tòa nhà Quốc hội trên đồi Capitol là có ý nghĩa rằng pháp luật là tối thượng. Ngoài ra, chiều cao các tòa nhà còn bị hạn chế vì lí do an ninh. Xin tham khảo thêm cách nhìn vấn đề này của người Mĩ qua bài dưới đây.
Đôi điều về chiều cao các tòa nhà ở Washington DC
Hiệu Minh Blog
Một góc của DC. Ảnh: HM
Kể từ năm 1790, thủ đô Washington District of Columbia (viết tắt là
DC) được thành lâp, thành phố vuông 16kmx16km = 256km2 (nay đã bớt vuông
vì bỏ phần Virginia) và chưa từng mở rộng sau 225 năm. Từ Virginia nhìn
sang DC sẽ không thấy cao ốc nào vượt quá 12-13 tầng nên trông từ trên
cao, DC như…mặt phẳng. Thủ đô DC “phẳng” vì có Hiến pháp qui định Qua hơn 200 năm DC vẫn “phẳng” vì chiều cao của các tòa nhà qui định
trong Hiến pháp Hoa Kỳ, được sửa đổi vài lần do thực tế phát triển. Năm 1894, chung cư Cairo
trên phố CU (Q) cạnh quảng trường Dupont Circle, bỗng nhiên xây cao tới
50m, dân sống quanh phản đối rầm trời vì cao ốc phá vỡ kiến trúc thủ
đô. Rối như canh hẹ, Hội đồng thành phố DC đã qui định độ cao của chung
cư tối đa 27 m, khu thương mại là 34m, hoặc độ cao của nhà chỉ bằng
chiều rộng của mặt phố để, cái nào “ngắn” hơn thì chọn. Qui định này đề
phòng khu nhà ở trước công viên lại lấy chiều rộng của công viên hay
quảng trường làm độ cao của tòa nhà sẽ có tới hàng trăm tầng. Dân Mỹ
lách luật hơi bị giỏi. Sau mấy năm tranh cãi, Quốc hội Hoa Kỳ khóa 55 thông qua một điều luật gọi là Height of Buildings Act of 1899 –
Chiều cao nhà cửa (1899 – năm thông qua) mà độ cao cho phép của các tòa
nhà trong DC không cao quá 40m đối với khu buôn bán và khu dân cư không
được vượt quá 27m, bỏ qui định lấy chiều rộng mặt phố làm chiều cao của
nhà. Năm 1910 Quốc hội Mỹ lại sửa đổi tiếp, cho phép building chỉ được cao
bằng độ rộng mặt phố cộng với 6,1m. Ví dụ, mặt phố rộng 28m độ cao của
tòa nhà tối đa là 34,1m (10-12 tầng). Nhưng khu dân cư không được vượt
quá 27 m và khu thương mại cũng không quá 40m. VP các bộ các ngành quan
trọng đều tuân thủ qui định nghiêm ngặt này. Có vài trường hợp trên đại
lộ Pennsylvania được phép cao tới 49m do mục đích thương mại. Thêm 9m
cho trường hợp đặc biệt mà Quốc hội cũng phải phê duyệt. Đồi Capitol nơi có tòa nhà Quốc hội cao 88m và tượng đài Washington
(tháp bút) ở giữa DC cao 169m. Với qui định trên thì không có bất kỳ tòa
nhà nào trong DC lại vượt mặt nhà Quốc hội và tháp bút Washington. Dân
DC mới đồn kiến trúc DC theo phong thủy chính trị “No one is above the
law – không ai ngồi trên pháp luật”. Họ dùng luật trong độ cao của nhà
cửa để giữ cho kiến trúc thành phố luôn nhất quán và theo đúng nghĩa
thượng tôn pháp luật.
Súng bắn tỉa chính xác ở độ xa 2,7km. Ảnh: internet
Có một lý do an ninh khá quan trọng. Năm 1963, TT Kennedy bị ám sát
do kẻ bắn tỉa ngồi trên tòa nhà cao tầng nên một phát đã làm bay sọ của
ông. Phải gọi đây là vụ xa…sát mới đúng. Nếu các tòa nhà gần Capitol
Hill cao hơn nhà Quốc hội, an ninh khó được đảm bảo. Thời nay súng trường bắn tỉa với kính ngắm phóng đại có thể tiêu diệt
mục tiêu cách xa vài km là thường. Nếu chiếm được độ cao thì việc
xa…sát ai coi như uống ly café hay chén cái bánh ngọt trong starbucks.
Đang đứng bỗng ngã vật vì phát đạn vào đầu mà không hề nghe tiếng súng
nổ vì súng giảm thanh ngày nay đã tới trình độ nổ không nghe thấy tiếng. Tháng 11-2009, một lính Anh đã hạ sát hai lính Taliban tại tỉnh Helmand (Afghanistan) ở tầm xa 2,47km bằng khẩu súng Accuracy International L115A3. Một cụ già với khẩu súng ngắn S&W 9mm đã bắn trúng mục tiêu cách xa 914m (1000 yards). Chưa kể việc theo dõi bằng các thiết bị hiện đại như IT, thiết bị
định vị từ xa, nghe lén hay quay phim chụp ảnh cách vài km bình thường
như cơm bữa mà chẳng cần vào trong khu nhà nhậy cảm đó dù có được bảo vệ
tới đâu. Vì thế, tại khu quan trọng như tòa nhà chính phủ, phủ tổng thống, nhà
quốc hội thường được bảo vệ nghiêm ngặt, bán kính vài km không được xây
tòa nhà cao hơn vì lý do an ninh là chính, kiến trúc quan trọng nhưng
không thể vượt lên an ninh. Nếu nhà thấp hơn chỉ có thể ngắm sang nhà
hàng xóm có cô đang tắm nude mà bắn súng…nước thôi :) Đôi điều về cao ốc 8B Lê Trực Tin từ Việt Nam cho hay, dư luận đang nóng về công trình cao ốc 60m
trên phố Lê Trực cách lăng Hồ Chí Minh và Nhà Quốc hội chỉ khoảng 400m.
Chiều cao của nhà Quốc hội là 39m và lăng cụ Hồ là 21m. Gần đó là Bộ
Ngoại giao, phủ Chủ tịch, phủ Thủ tướng, VP Trung ương Đảng CS Việt Nam
chỉ cao ba, bốn tầng.
Nhà 8B Lê Trực cạnh lăng HCM. Ảnh từ TPO.
Tòa nhà cao 60m nằm cách đó chưa đến nửa km, mọi hoạt động trong khu
vực nhạy cảm này sẽ hoàn toàn trong tầm ngắm của cư dân sống trong cao
ốc 8B phố Lê Trực. Chỉ cần cái ống nhòm vài chục đô la, bọn trẻ con có
thể ngắm thỏa thích các nghị sỹ trong sân vườn nhà Quốc hội. Không những cao ốc này sẽ phá vỡ cảnh quan khu Ba Đình mà còn dấy lên
những câu hỏi về an ninh. Giá xây dựng của tòa nhà không thể sánh với
việc hoạt động của đầu não quốc gia. Hãy nghĩ lại trước khi quá muộn. HM. 29-9-2015 Bonus trên Wiki. “Phố Lê Trực mang tên đề đốc Hà Nội (1882) vì không giữ được thành nên rút chạy lên Sơn Tây và bị cách chức. Ngày 5-7-1885, kinh đô Huế bị
Pháp chiếm, vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết chạy ra Hà Tĩnh, xuống
chiếu Cần vương, kêu gọi sĩ phu và nhân dân đánh giặc Pháp, Lê Trực
triệu tập nghĩa binh khởi nghĩa ở vùng Quảng Bình. Sau đó bị giặc đánh
ráo riết, ông chạy ra Hà Tĩnh. Ở đây ông hợp sức với Tôn Thất Đàm (con
cả Tôn Thất Thuyết) tiếp tục kháng chiến. Cho tới ngày vua Hàm Nghi bị
bắt, thấy bất lực, ông giải tán nghĩa binh, về quê nhà, không rõ cuối
đời ra sao.” Lời bình của Mao Tôn Cua.Ông
chủ tịch Nguyễn Thế Thảo rất giỏi cưa cây mà lẽ ra phải để cây càng cao
càng tốt. Nhưng ông không biết cưa nhiều cao ốc lừng lững giữa thủ đô
như con voi trong phòng khách mà lẽ ra ông phải để chúng càng thấp càng
đẹp. Giá như ông Thảo cưa cao ốc như cưa cây thì dân thủ đô dựng tượng
vị kiến trúc sư tốt nghiệp từ Ba Lan. Tuy nhiên, không giữ được vẻ đẹp
của Thăng Long, ông nên bị cách chức như cố nhân Lê Trực, về quê đuổi
gà cho vợ.
Ông Tập Cận Bình,
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa đang có chuyến thăm Hoa Kỳ, nơi mà ông đã được Tổng thống
Barack Obama đón tiếp khá thẳng thắn.
Tổng thống Mỹ nói với
ông Tập hôm 25/9: "Dù rằng hai quốc gia hợp tác với nhau, song tôi
tin và biết rằng ông sẽ đồng ý việc chúng ta cần phải giải quyết các bất
đồng giữa đôi bên một cách thẳng thắn" và một trong những bất đồng này
được dư luận và các giới hiểu, đó chính là tham vọng và hành xử của
Trung Quốc trong suốt thời gian qua cho tới hiện nay, gây quan ngại cho
Hoa Kỳ và nhiều nước, trong đó có Việt Nam, trên Biển Đông. Ông
Tập Cận Bình lại sắp có chuyến thăm làm việc tại Việt Nam, trong bức thư
ngỏ với tư cách một kiến nghị gửi tới Ban lãnh đạo mà nhà nước Việt
Nam, tôi muốn nhấn mạnh trước hết với các vị điểm sau. Những dịp
như chuyến thăm của ông Tập, nếu diễn ra theo dự kiến, là hiếm và tôi
cho rằng đó là cơ hội rất tốt để lãnh đạo cấp cao hai bên có thể trao
đổi thẳng thắn, đặt lên bàn những vấn đề vốn đã và vẫn đang là nguyên
nhân tạo nên sự căng thẳng giữa hai nước. Khi Việt Nam là chủ nhà, nghị
trình và nội dung làm việc chắc chắn sẽ có được sự chủ động, kể cả sự
kiên trì cần thiết. Tôi tin là Ban lãnh đạo nước nhà đã và đang có sự chuẩn bị. Là một công dân, xin được đề xuất với các ông một số ý kiến. Trước hết, vấn đề đàm phán về quần đảo
Hoàng Sa. Như chúng ta đều biết, trên Biển Đông hiện nay có bốn vấn đề
nổi cộm: tranh chấp chủ quyền biển, đảo; an ninh khu vực; tự do thông
thương hàng hải, hàng không quốc tế và vấn đề bảo vệ tài nguyên biển. Ba
vấn đề sau thu hút dư luận quốc tế, nhất là khi gần đây Trung Quốc mở
rộng và xây cất ồ ạt trên các đá (rock) và các rạn san hô (coral reef),
làm mờ đi một vấn đề thiết thân đến chúng ta: tranh chấp chủ quyền biển,
đảo.
Ta nói, ta nghe?
Tranh
chấp chủ quyền biển đảo có hai tư cách có ý nghĩa quyết định: một, đó
là vấn đề khởi nguồn của mọi vấn đề; hai, và do đó nếu giải quyết được
(cho dù ở một phạm vi hạn chế và dù chưa thật thỏa mãn cho tất cả các
bên), nó sẽ quyết định đến sự yên tĩnh của Biển Đông. Tất cả các nước có
tranh chấp trong khu vực đều coi trọng điều này, Trung Quốc càng như
vậy. Khi Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Chủ quyền của ta, gác tranh
chấp, cùng khai thác” thì có nghĩa ông ta bảo với thiên hạ rằng vấn đề
chủ quyền đã xong, nó thuộc về Trung Quốc. Gần đây, phát biểu tại Diễn
đàn hòa bình thế giới được tổ chức tại Đại học Thanh Hoa, Ngoại trưởng
Trung Quốc Vương Nghị còn đi xa hơn. Ông nói, Trung Quốc không thể nhân
nhượng trong vấn đề chủ quyền, chỉ đơn giản là nếu làm khác thì “sẽ
không còn mặt mũi nào nhìn ông bà tổ tiên” (!) Không thể đấu lại
Trung Quốc bằng cả mồm miệng lẫn tay chân, Philippines quyết định đưa
vấn đề ra Tòa án trọng tài quốc tế. Còn Việt Nam? Nước Việt Nam giải
quyết vấn đề chủ quyền bằng sự “đồng lòng một ý chí” hướng về Biển Đông,
hướng về Hoàng Sa, Trường Sa. Chúng ta triển lãm các bản đồ lịch sử
khẳng định chủ quyền, chúng ta đặt tên Hoàng Sa, trồng cây Trường Sa ở
nơi này nơi khác, hát những bài hát về Biển Đông và: “Đời ta không xong
thì đến đời con, đời con không xong thì đến đời cháu, đời cháu
không...”, đại loại là như vậy. Tất cả những việc làm đó là cần thiết, nhưng thử
ngẫm mà xem, chúng ta nói chúng ta nghe, chúng ta làm chúng ta biết như
một sự an ủi, không đến được tai của thế giới, không tác động tích cực
đến dư luận quốc tế. Nó cũng giống như một phép thắng lợi tinh thần. Không
thể không thấy Trung Quốc đã làm được rất nhiều về vấn đề chủ quyền,
chẳng những chiếm đoạt nó bằng vũ lực (một việc không được Công ước Luật
biển chấp nhận), mà còn ra sức tuyên truyền để quốc tế thấy rằng không
hề có vấn đề tranh chấp ở Hoàng Sa, nơi thuộc về Trung Quốc đã cả vài
ngàn năm rồi (!) Những việc mà Trung Quốc làm ở Trường Sa hiện nay
càng khiến cho vấn đề Hoàng Sa mờ đi. Có thể vấn đề này sẽ biến mất
chăng, một khi các nước lớn ngoài khu vực - như Mỹ chẳng hạn - một mặt
khẳng định họ đứng trung lập trong tranh chấp chủ quyền, mặt khác, sự
quan tâm “chết người” của họ lại chỉ là ở chỗ quyền thông thương buôn
bán, quyền hàng hải hàng không có được tự do hay bị cản trở mà thôi.
Mũi tên nhiều hướng
Và tôi muốn lưu ý việc Trung Quốc đang làm nóng lên ở Trường Sa có thể
là một mũi tên bắn đi nhiều hướng. Nghĩa là Trung Quốc đang thực hiện
sách lược của họ, sách lược cho Hoàng Sa nói riêng và cho Biển Đông nói
chung. Nhưng xin mở ngoặc trước hết về khái niệm 'sách lược' ở đây, sách
lược là một khái niệm gốc Hán, không có từ đồng nghĩa trong các ngôn
ngữ Ấn – Âu (Anh, Nga, Pháp, Đức…). Bởi vậy khi dịch khái niệm này người
ta thường lúng túng, lúc thì dịch là Strategy (chiến lược), lúc thì
dịch là tactics (chiến thuật). Hiểu đúng nghĩa, đó là việc “căn cứ vào
sự phát triển của tình hình (mang tính giai đoạn) mà đề ra phương thức
hành động hoặc đấu tranh thích hợp”, theo Từ điển Hán ngữ hiện đại chẳng
hạn. Còn Từ điển Hán – Anh, Hán – Nga, (do Trung Quốc xuất bản) thì họ
dịch là tact (sự khôn ngoan, mưu lược) và các nước cộng sản châu Á bao
gồm Việt Nam rất khoái sử dụng 'sách lược' (Chú thích cho độc giả bản
đài - TG). Trở lại với sách lược Biển Đông và biển đảo của Trung
Quốc, họ cũng quan sát rất kỹ các động thái của Việt Nam trong vấn đề
này. Tạp chí “Châu Á – Thái Bình Dương đương đại” của Trung Quốc trong
tháng năm có bài “Tìm kiếm mô hình giải quyết tranh chấp Biển Đông giữa
Trung Quốc và Việt Nam” dẫn tuyên bố của các giới chức có thẩm quyền ở
Việt Nam trong vụ giàn khoan Hải Dương - 981 năm 2014 (nhấn mạnh vị trí
giàn khoan nằm trong thềm lục địa Việt Nam, mà bỏ qua khoảng cách gần
hơn đến quần đảo Hoàng Sa) để cho rằng “Việt Nam đã tự loại mình khỏi
việc đòi hỏi chủ quyền Hoàng Sa”. Việc mất quyền kiểm soát thực tế
quần đảo Hoàng Sa không chỉ là một tổn thất lớn của Việt Nam, cả về vật
chất lẫn tâm lý. Điều đáng quan tâm nhất hiện nay, điều không thể chấp
nhận được hiện nay khiến nổi sóng dư luận là: Đây vốn là vùng đánh cá
truyền thống của ngư dân Việt, là nơi kiếm sống của rất nhiều hộ gia
đình ngư dân dọc một dải Trung Trung Bộ. Nhưng Trung Quốc, đặc
biệt từ 2010 đã gây ra vô vàn thống khổ cho ngư dân vùng này. Những hành
động cướp đoạt thành quả lao động, phá hỏng ngư cụ, đánh đập ngư dân,
đánh đắm và bắt giữ thuyền bè… ngày càng gia tăng. Thậm chí tướng Hải
quân Trung Quốc Doãn Trác còn tuyên bố cần phải mạnh tay hơn nữa với tàu
thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam. Sự hỗ trợ về mặt vật chất của nhà
nước ta là có hạn, sự can thiệp của lực lượng kiểm ngư, cảnh sát biển
nhiều khi là bất khả.
Tiêu chuẩn kép TQ
Trung Quốc hay nói đến lịch sử. Nếu nói về điều đó
thì Trung Quốc có lẽ phải thừa nhận rằng, công việc khai thác hải sản,
khoáng vật của các đội ngư thuyền Việt Nam trong vùng biển này hầu như
là duy nhất và không bị tranh chấp đã hàng ngàn năm nay. Việc mất quyền
đánh cá, quyền khai thác hải sản trong một ngư trường vốn là của mình và
không có sự tranh chấp nào cho đến khi Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa
là điều không thể chấp nhận.Việt Nam cần phải có những hành động
chính trị, pháp lý kiên quyết trong vấn đề Hoàng Sa. Điều chúng tôi
muốn nói là Việt Nam phải yêu cầu Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán về
vấn đề này. Trên thực tế, Việt Nam đã nhiều lần yêu cầu phía Trung
Quốc cùng ngồi lại, nhưng luôn bị họ khước từ một cách quyết đoán với
lý do: Quần đảo Hoàng Sa không có sự tranh chấp.
Sự từ chối có
tính áp đặt của Trung Quốc cộng với những căng thẳng ở Trường Sa thu hút
nhiều sự quan tâm hơn nên có thể đã là nguyên nhân khiến Việt Nam lâu
nay ít đề cập đến vấn đề đàm phán về Hoàng Sa và đó lại là nguyên nhân
khiến Trung Quốc cho rằng Việt Nam dường như từ bỏ yêu sách về quần đảo
này (đã dẫn ở trên). Chúng tôi cho rằng, để tiến tới cuộc đàm
phán về Hoàng Sa, cả hai bên Việt Nam và Trung Quốc đều cần thừa nhận sự
tồn tại trên thực tế của vấn đề và vấn đề ấy là nghiêm trọng, không chỉ
gây nên thống khổ cho ngư dân Việt mà còn ảnh hưởng lâu dài đến mối
bang giao giữa hai nước, mọi sự bỏ qua sẽ càng làm vấn đề trầm trọng
thêm. Việt Nam cũng rất cần đặt câu hỏi, vấn đề Hoàng Sa ở Biển
Đông và vấn đề quần đảo Điếu Ngư ở Hoa Đông là hoàn toàn giống nhau ở
hình thức tranh chấp, tại sao Trung Quốc lại đòi hỏi tiêu chuẩn kép, tùy
thuộc sự có lợi cho họ? Chẳng lẽ nước lớn thì có quyền như vậy? Và nữa,
Trung Quốc từ chối tham vấn đa phương, nhưng cũng lại từ chối đàm phán
về Hoàng Sa, một vấn đề chỉ có sự tranh chấp giữa hai quốc gia? Thậm chí
gần đây, Trung Quốc còn tự ý đưa các quần đảo ấy của Việt Nam vào quy
hoạch biển của mình?
Kiến nghị, hiến kế
Vậy
xin kiến nghị: chúng ta trước hết cần phải làm cho Trung Quốc thấy rõ
một thực tế là những hành động của họ đã hoàn toàn không còn có cái gọi
là “bạn bè tốt”, “láng giềng tốt”, “láng giềng hữu nghị” như những khẩu
hiệu hai bên vẫn thường hô lên. Sau đó cần phải kiên trì và kiên
quyết yêu cầu Trung Quốc ngồi vào đàm phán bằng cách, một mặt trong tất
cả các cuộc tiếp xúc từ cấp cao đến cấp chuyên viên, trong tất cả các cơ
hội làm việc từ quan hệ chính thức, quan hệ nhà nước đến quan hệ nhân
dân, quan hệ học giả… vấn đề này phải được chủ động đề cập, cho dù có
khiên cưỡng chăng nữa. Mặt khác, kiên trì ba tháng hoặc sáu tháng
một lần, Chính phủ (Bộ Ngoại giao) gửi công hàm đến phía Trung Quốc yêu
cầu đàm phán về vấn đề Hoàng Sa. Công hàm này được công bố công khai
trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết được quyết tâm
của chính phủ và quan trọng hơn, để dư luận quốc tế thấy được đây là
vấn đề rõ ràng có sự tranh chấp giữa các bên liên quan.
Việc đàm phán chắc chắn không dễ dàng dẫn đến kết
quả mong muốn cho cả hai bên. Nhưng có đàm phán là có bình yên. Và theo
tôi, nếu giành được sự hiểu biết lẫn nhau để tối thiểu ngư dân Việt Nam
có quyền đánh cá trên vùng biển truyền thống của mình thì đó cũng đã là
một thắng lợi. Liên quan đến vấn đề này, tôi cũng xin có thêm một
kiến nghị. Hai bên Việt Nam và Trung Quốc thường nhắc đến “Mười sáu chữ”
và “Bốn tốt”. Tuy không được nêu ra như một quy tắc ứng xử thì nó cũng
giống như một sự dẫn đường cho quan hệ giữa hai nước. Rất nên có
sự chỉ đạo từ cấp cao để những cấp làm việc (như Ủy ban Hợp tác Kinh tế
giữa hai bên chẳng hạn) đưa vào xem xét, kiểm điểm việc thực hiện tinh
thần này trong những phiên họp thường kỳ. Tóm lại, ý kiến của tôi
là cả hai vấn đề: đàm phán về quần đảo Hoàng Sa và xem xét, kiểm điểm
thường kỳ về “ các chữ ”,“ các tốt ” nếu trước đây chúng ta chưa có điều
kiện đề cập thì cuộc làm việc với ông Tập Cận Bình là một cơ hội tốt để
có được sự thống nhất về nguyên tắc ở cấp chỉ đạo, làm cơ sở cho việc
triển khai thực hiện.
Bài viết, dưới đạng thư ngỏ, kiến nghị,
thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một nhà
nghiên cứu chính trị và bang giao Trung - Việt, nguyên Tổng thư ký, Phó
Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung, đang sống ở Hà Nội.
Bạn Vũ Cao Phan, cựu học sinh LSQL, nguyên Tổng thư kí kiêm phó Chủ tịch hội Hữu nghị Việt - Trung, là người luôn có mối quan tâm đặc biệt những diễn biến tình hình của mối quan hệ giữa Việt nam và Trung quốc. Cách đây vài năm Bạn đã có bài trả lời nổi tiếng về vấn đề này cho một cơ quan thông tấn ở Hongkong. Gần đây bạn đã được mời tham gia các cuộc thảo luận chính trị online trong chuyên mục thảo luận bàn tròn của đài BBC tiếng Việt. Những ý kiến của Bạn rất sắc sảo và rất gần gũi với suy nghĩ của chúng ta. Dưới đây xin giới thiệu bài viết mới nhất của Bạn với phần nội dung rất quan trọng và cách thể hiện rất chững chạc của một nhà báo chuyên nghiệp.
Hãy thẳng thắn với ông Tập Cận Bình
TS. Vũ Cao PhanGửi cho BBC từ Hà Nội
26 tháng 9 2015
Ông Tập Cận Bình,
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa đang có chuyến thăm Hoa Kỳ, nơi mà ông đã được Tổng thống
Barack Obama đón tiếp khá thẳng thắn.
Tổng thống Mỹ nói với
ông Tập hôm 25/9: "Dù rằng hai quốc gia hợp tác với nhau, song tôi
tin và biết rằng ông sẽ đồng ý việc chúng ta cần phải giải quyết các bất
đồng giữa đôi bên một cách thẳng thắn" và một trong những bất đồng này
được dư luận và các giới hiểu, đó chính là tham vọng và hành xử của
Trung Quốc trong suốt thời gian qua cho tới hiện nay, gây quan ngại cho
Hoa Kỳ và nhiều nước, trong đó có Việt Nam, trên Biển Đông. Ông
Tập Cận Bình lại sắp có chuyến thăm làm việc tại Việt Nam, trong bức thư
ngỏ với tư cách một kiến nghị gửi tới Ban lãnh đạo mà nhà nước Việt
Nam, tôi muốn nhấn mạnh trước hết với các vị điểm sau. Những dịp
như chuyến thăm của ông Tập, nếu diễn ra theo dự kiến, là hiếm và tôi
cho rằng đó là cơ hội rất tốt để lãnh đạo cấp cao hai bên có thể trao
đổi thẳng thắn, đặt lên bàn những vấn đề vốn đã và vẫn đang là nguyên
nhân tạo nên sự căng thẳng giữa hai nước. Khi Việt Nam là chủ nhà, nghị
trình và nội dung làm việc chắc chắn sẽ có được sự chủ động, kể cả sự
kiên trì cần thiết. Tôi tin là Ban lãnh đạo nước nhà đã và đang có sự chuẩn bị. Là một công dân, xin được đề xuất với các ông một số ý kiến. Trước hết, vấn đề đàm phán về quần đảo
Hoàng Sa. Như chúng ta đều biết, trên Biển Đông hiện nay có bốn vấn đề
nổi cộm: tranh chấp chủ quyền biển, đảo; an ninh khu vực; tự do thông
thương hàng hải, hàng không quốc tế và vấn đề bảo vệ tài nguyên biển. Ba
vấn đề sau thu hút dư luận quốc tế, nhất là khi gần đây Trung Quốc mở
rộng và xây cất ồ ạt trên các đá (rock) và các rạn san hô (coral reef),
làm mờ đi một vấn đề thiết thân đến chúng ta: tranh chấp chủ quyền biển,
đảo.
Ta nói, ta nghe?
Tranh
chấp chủ quyền biển đảo có hai tư cách có ý nghĩa quyết định: một, đó
là vấn đề khởi nguồn của mọi vấn đề; hai, và do đó nếu giải quyết được
(cho dù ở một phạm vi hạn chế và dù chưa thật thỏa mãn cho tất cả các
bên), nó sẽ quyết định đến sự yên tĩnh của Biển Đông. Tất cả các nước có
tranh chấp trong khu vực đều coi trọng điều này, Trung Quốc càng như
vậy. Khi Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Chủ quyền của ta, gác tranh
chấp, cùng khai thác” thì có nghĩa ông ta bảo với thiên hạ rằng vấn đề
chủ quyền đã xong, nó thuộc về Trung Quốc. Gần đây, phát biểu tại Diễn
đàn hòa bình thế giới được tổ chức tại Đại học Thanh Hoa, Ngoại trưởng
Trung Quốc Vương Nghị còn đi xa hơn. Ông nói, Trung Quốc không thể nhân
nhượng trong vấn đề chủ quyền, chỉ đơn giản là nếu làm khác thì “sẽ
không còn mặt mũi nào nhìn ông bà tổ tiên” (!) Không thể đấu lại
Trung Quốc bằng cả mồm miệng lẫn tay chân, Philippines quyết định đưa
vấn đề ra Tòa án trọng tài quốc tế. Còn Việt Nam? Nước Việt Nam giải
quyết vấn đề chủ quyền bằng sự “đồng lòng một ý chí” hướng về Biển Đông,
hướng về Hoàng Sa, Trường Sa. Chúng ta triển lãm các bản đồ lịch sử
khẳng định chủ quyền, chúng ta đặt tên Hoàng Sa, trồng cây Trường Sa ở
nơi này nơi khác, hát những bài hát về Biển Đông và: “Đời ta không xong
thì đến đời con, đời con không xong thì đến đời cháu, đời cháu
không...”, đại loại là như vậy. Tất cả những việc làm đó là cần thiết, nhưng thử
ngẫm mà xem, chúng ta nói chúng ta nghe, chúng ta làm chúng ta biết như
một sự an ủi, không đến được tai của thế giới, không tác động tích cực
đến dư luận quốc tế. Nó cũng giống như một phép thắng lợi tinh thần. Không
thể không thấy Trung Quốc đã làm được rất nhiều về vấn đề chủ quyền,
chẳng những chiếm đoạt nó bằng vũ lực (một việc không được Công ước Luật
biển chấp nhận), mà còn ra sức tuyên truyền để quốc tế thấy rằng không
hề có vấn đề tranh chấp ở Hoàng Sa, nơi thuộc về Trung Quốc đã cả vài
ngàn năm rồi (!) Những việc mà Trung Quốc làm ở Trường Sa hiện nay
càng khiến cho vấn đề Hoàng Sa mờ đi. Có thể vấn đề này sẽ biến mất
chăng, một khi các nước lớn ngoài khu vực - như Mỹ chẳng hạn - một mặt
khẳng định họ đứng trung lập trong tranh chấp chủ quyền, mặt khác, sự
quan tâm “chết người” của họ lại chỉ là ở chỗ quyền thông thương buôn
bán, quyền hàng hải hàng không có được tự do hay bị cản trở mà thôi.
Mũi tên nhiều hướng
Và tôi muốn lưu ý việc Trung Quốc đang làm nóng lên ở Trường Sa có thể
là một mũi tên bắn đi nhiều hướng. Nghĩa là Trung Quốc đang thực hiện
sách lược của họ, sách lược cho Hoàng Sa nói riêng và cho Biển Đông nói
chung. Nhưng xin mở ngoặc trước hết về khái niệm 'sách lược' ở đây, sách
lược là một khái niệm gốc Hán, không có từ đồng nghĩa trong các ngôn
ngữ Ấn – Âu (Anh, Nga, Pháp, Đức…). Bởi vậy khi dịch khái niệm này người
ta thường lúng túng, lúc thì dịch là Strategy (chiến lược), lúc thì
dịch là tactics (chiến thuật). Hiểu đúng nghĩa, đó là việc “căn cứ vào
sự phát triển của tình hình (mang tính giai đoạn) mà đề ra phương thức
hành động hoặc đấu tranh thích hợp”, theo Từ điển Hán ngữ hiện đại chẳng
hạn. Còn Từ điển Hán – Anh, Hán – Nga, (do Trung Quốc xuất bản) thì họ
dịch là tact (sự khôn ngoan, mưu lược) và các nước cộng sản châu Á bao
gồm Việt Nam rất khoái sử dụng 'sách lược' (Chú thích cho độc giả bản
đài - TG). Trở lại với sách lược Biển Đông và biển đảo của Trung
Quốc, họ cũng quan sát rất kỹ các động thái của Việt Nam trong vấn đề
này. Tạp chí “Châu Á – Thái Bình Dương đương đại” của Trung Quốc trong
tháng năm có bài “Tìm kiếm mô hình giải quyết tranh chấp Biển Đông giữa
Trung Quốc và Việt Nam” dẫn tuyên bố của các giới chức có thẩm quyền ở
Việt Nam trong vụ giàn khoan Hải Dương - 981 năm 2014 (nhấn mạnh vị trí
giàn khoan nằm trong thềm lục địa Việt Nam, mà bỏ qua khoảng cách gần
hơn đến quần đảo Hoàng Sa) để cho rằng “Việt Nam đã tự loại mình khỏi
việc đòi hỏi chủ quyền Hoàng Sa”. Việc mất quyền kiểm soát thực tế
quần đảo Hoàng Sa không chỉ là một tổn thất lớn của Việt Nam, cả về vật
chất lẫn tâm lý. Điều đáng quan tâm nhất hiện nay, điều không thể chấp
nhận được hiện nay khiến nổi sóng dư luận là: Đây vốn là vùng đánh cá
truyền thống của ngư dân Việt, là nơi kiếm sống của rất nhiều hộ gia
đình ngư dân dọc một dải Trung Trung Bộ. Nhưng Trung Quốc, đặc
biệt từ 2010 đã gây ra vô vàn thống khổ cho ngư dân vùng này. Những hành
động cướp đoạt thành quả lao động, phá hỏng ngư cụ, đánh đập ngư dân,
đánh đắm và bắt giữ thuyền bè… ngày càng gia tăng. Thậm chí tướng Hải
quân Trung Quốc Doãn Trác còn tuyên bố cần phải mạnh tay hơn nữa với tàu
thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam. Sự hỗ trợ về mặt vật chất của nhà
nước ta là có hạn, sự can thiệp của lực lượng kiểm ngư, cảnh sát biển
nhiều khi là bất khả.
Tiêu chuẩn kép TQ
Trung Quốc hay nói đến lịch sử. Nếu nói về điều đó
thì Trung Quốc có lẽ phải thừa nhận rằng, công việc khai thác hải sản,
khoáng vật của các đội ngư thuyền Việt Nam trong vùng biển này hầu như
là duy nhất và không bị tranh chấp đã hàng ngàn năm nay. Việc mất quyền
đánh cá, quyền khai thác hải sản trong một ngư trường vốn là của mình và
không có sự tranh chấp nào cho đến khi Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa
là điều không thể chấp nhận.
Việt Nam cần phải có những hành động
chính trị, pháp lý kiên quyết trong vấn đề Hoàng Sa. Điều chúng tôi
muốn nói là Việt Nam phải yêu cầu Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán về
vấn đề này. Trên thực tế, Việt Nam đã nhiều lần yêu cầu phía Trung
Quốc cùng ngồi lại, nhưng luôn bị họ khước từ một cách quyết đoán với
lý do: Quần đảo Hoàng Sa không có sự tranh chấp. Sự từ chối có
tính áp đặt của Trung Quốc cộng với những căng thẳng ở Trường Sa thu hút
nhiều sự quan tâm hơn nên có thể đã là nguyên nhân khiến Việt Nam lâu
nay ít đề cập đến vấn đề đàm phán về Hoàng Sa và đó lại là nguyên nhân
khiến Trung Quốc cho rằng Việt Nam dường như từ bỏ yêu sách về quần đảo
này (đã dẫn ở trên). Chúng tôi cho rằng, để tiến tới cuộc đàm
phán về Hoàng Sa, cả hai bên Việt Nam và Trung Quốc đều cần thừa nhận sự
tồn tại trên thực tế của vấn đề và vấn đề ấy là nghiêm trọng, không chỉ
gây nên thống khổ cho ngư dân Việt mà còn ảnh hưởng lâu dài đến mối
bang giao giữa hai nước, mọi sự bỏ qua sẽ càng làm vấn đề trầm trọng
thêm. Việt Nam cũng rất cần đặt câu hỏi, vấn đề Hoàng Sa ở Biển
Đông và vấn đề quần đảo Điếu Ngư ở Hoa Đông là hoàn toàn giống nhau ở
hình thức tranh chấp, tại sao Trung Quốc lại đòi hỏi tiêu chuẩn kép, tùy
thuộc sự có lợi cho họ? Chẳng lẽ nước lớn thì có quyền như vậy? Và nữa,
Trung Quốc từ chối tham vấn đa phương, nhưng cũng lại từ chối đàm phán
về Hoàng Sa, một vấn đề chỉ có sự tranh chấp giữa hai quốc gia? Thậm chí
gần đây, Trung Quốc còn tự ý đưa các quần đảo ấy của Việt Nam vào quy
hoạch biển của mình?
Kiến nghị, hiến kế
Vậy
xin kiến nghị: chúng ta trước hết cần phải làm cho Trung Quốc thấy rõ
một thực tế là những hành động của họ đã hoàn toàn không còn có cái gọi
là “bạn bè tốt”, “láng giềng tốt”, “láng giềng hữu nghị” như những khẩu
hiệu hai bên vẫn thường hô lên. Sau đó cần phải kiên trì và kiên
quyết yêu cầu Trung Quốc ngồi vào đàm phán bằng cách, một mặt trong tất
cả các cuộc tiếp xúc từ cấp cao đến cấp chuyên viên, trong tất cả các cơ
hội làm việc từ quan hệ chính thức, quan hệ nhà nước đến quan hệ nhân
dân, quan hệ học giả… vấn đề này phải được chủ động đề cập, cho dù có
khiên cưỡng chăng nữa. Mặt khác, kiên trì ba tháng hoặc sáu tháng
một lần, Chính phủ (Bộ Ngoại giao) gửi công hàm đến phía Trung Quốc yêu
cầu đàm phán về vấn đề Hoàng Sa. Công hàm này được công bố công khai
trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết được quyết tâm
của chính phủ và quan trọng hơn, để dư luận quốc tế thấy được đây là
vấn đề rõ ràng có sự tranh chấp giữa các bên liên quan.
Việc đàm phán chắc chắn không dễ dàng dẫn đến kết
quả mong muốn cho cả hai bên. Nhưng có đàm phán là có bình yên. Và theo
tôi, nếu giành được sự hiểu biết lẫn nhau để tối thiểu ngư dân Việt Nam
có quyền đánh cá trên vùng biển truyền thống của mình thì đó cũng đã là
một thắng lợi. Liên quan đến vấn đề này, tôi cũng xin có thêm một
kiến nghị. Hai bên Việt Nam và Trung Quốc thường nhắc đến “Mười sáu chữ”
và “Bốn tốt”. Tuy không được nêu ra như một quy tắc ứng xử thì nó cũng
giống như một sự dẫn đường cho quan hệ giữa hai nước. Rất nên có
sự chỉ đạo từ cấp cao để những cấp làm việc (như Ủy ban Hợp tác Kinh tế
giữa hai bên chẳng hạn) đưa vào xem xét, kiểm điểm việc thực hiện tinh
thần này trong những phiên họp thường kỳ. Tóm lại, ý kiến của tôi
là cả hai vấn đề: đàm phán về quần đảo Hoàng Sa và xem xét, kiểm điểm
thường kỳ về “ các chữ ”,“ các tốt ” nếu trước đây chúng ta chưa có điều
kiện đề cập thì cuộc làm việc với ông Tập Cận Bình là một cơ hội tốt để
có được sự thống nhất về nguyên tắc ở cấp chỉ đạo, làm cơ sở cho việc
triển khai thực hiện.
Bài viết, dưới đạng thư ngỏ, kiến nghị,
thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một nhà
nghiên cứu chính trị và bang giao Trung - Việt, nguyên Tổng thư ký, Phó
Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung, đang sống ở Hà Nội.
Mùa hè vừa rồi tôi có dịp đi một số nước ở châu Âu. Đâu đâu cũng có người Việt làm ăn, sinh sống. Nghề ngiệp của họ chủ yếu là bán hàng trong những khu chợ người Việt. Những khu chợ này cũng na ná như chợ ở các thành phố ở Việt nam. Những gian hàng tạp hóa với hàng rẻ tiền, những quầy hàng thực phẩm quen thuộc của Việt nam, những tiệm làm móng tay móng chân. Và đặc biệt là các cửa hàng ăn to nhỏ các cỡ. Đặc điểm chung là hàm lượng tri thức trong hoạt động làm ăn này hầu như không có gì mặc dù chủ nhân của những gian hàng này không ít người là tiến sĩ, kĩ sư....Tôi định viết một bài về việc làm ăn của người Việt mình ở bên tây theo những gì mà tôi quan sát thấy nhưng nhân có bài viết của bạn Trần Mạnh Thái, một người hiện đang sống ở Đức, cũng có nhiều điểm giống như tôi nghĩ nên xin đưa về đây chia sẻ cùng các Cụ.
Đi Tây có sướng như Tây'?
Trần Mạnh Thái, 11 tháng 9,2015.
Nhiều người như tôi sang Đức từ thời Đông Đức đến nay cũng đã trên dưới 35 năm, người sang muộn hơn thì cũng đã trên dưới 25 năm.
Những người sang sau khi nước Đức thống nhất thì thời gian dài ngắn khác nhau.
Nhưng
tôi nghĩ dù là sang đây đi học hay sang Đức lao động hay vì một lý do
nào khác, phần lớn chúng ta đều có một mong muốn khi quyết định rời xa
gia đình, người thân, quê hương... đi Tây để mong có một tương lai tốt
đẹp, sung sướng hơn so với cuộc sống vào thời điểm ra đi.
Sau gần nửa cuộc đời son trẻ nhìn lại, chúng ta thấy mình có được “sướng như Tây” hay không.
Bằng
sự cần cù chịu khó của người Việt, nhiều người trong chúng ta đã tích
luỹ được từ sự lao động cực nhọc của mình một số tài sản cho gia đình có
thể nói là giàu có hơn người Đức tính ở hạng trung bình.
Vậy là
những người Việt này có thể nói là giàu hơn Tây. Có vài người thì có số
tài sản hàng vài triệu tiền Tây, cá biệt một số ít thấy báo chí đưa tin
có hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu tiền Tây. Vậy thì số ít này rõ
ràng giàu có hơn rất nhiều người Tây ở cả hàng trung và thượng tầng của
Xã hội Tây, (đỉnh thì người Việt mình leo chưa tới).
Định nghĩa 'sung sướng'
Vậy
những người được đánh giá là giàu hơn Tây này đã sướng hơn Tây chưa. Mà
định nghĩa chữ “sung sướng” như thế nào cho phù hợp với số đông dân
chúng?
Trước tiên tôi muốn đề cập đến một số người sang Đức sau ngày Đức thống nhất. Image copyrightImage caption
Người dân Đức nghỉ ngơi, đọc sách ngoài công viên, gần bảo tàng, thư viện
Người nghèo ở Việt Nam ta thì chỉ cần có được một
bữa ăn no, chứ chưa dám đòi hỏi ngon đã cảm thấy sung sướng vô cùng, có
thể hát vang được câu ca:
“Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, cơm trắng trong nồi lòng ta mê say...!“.
Những
người này đến hôm nay vẫn mơ giấc mơ được đi Tây để đổi đời, để được
“sướng như Tây”. Khi sang Đức họ ở tạm trong trại Tỵ nạn, nếu không hoặc
chưa được cấp quyền tạm trú để ra sống ở ngoài, thì họ cũng được nhà
nước chu cấp cho nhà ở, áo quần, tiền ăn uống sinh hoạt đầy đủ.
Hàng
ngày họ không phải lao động để mưu sinh và cơm họ ăn thì không phải độn
khoai sắn, trên mâm có đủ cả thịt cá và bia bọt. Đối với họ thế là
“sướng như Tây” và hơn ở ta (nơi họ ra đi) nhiều rồi.
Một vài
người hoàn cảnh ở Việt Nam không đến nỗi nào, nhưng nghĩ là sang Đức sẽ
sung sướng hơn ở nhà nên cũng vay mượn lãi cao để "đi Tây“.
Sang đến nơi không được cấp quyền tạm trú
vì bị bác đơn xin Tỵ nạn. Sống trong trại Tỵ nạn thì gò bó và không
bằng khi họ ở Việt Nam, đi làm thêm (làm chui) thì vất vả và số tiền
kiếm được không như họ nghĩ nên sinh ra chán nản và họ không cảm thấy
“sướng như Tây”.
Một số ít xin tự nguyện hồi hương, một số tìm mọi
cách vay mượn tiền xoay sở để có được quyền tạm trú ra sống ở bên ngoài
(không phải ai cũng làm được). Một số lại quay ra làm những việc phạm
pháp như buôn bán thuốc lá lậu, ăn trộm trong các siêu thị... để nhanh
có tiền hay mong nhanh giàu có.
Phải công bằng mà nói trong số
những người làm việc phạm pháp cũng có nhiều người hoàn cảnh nghèo khổ ở
Việt Nam ra đi, phải "liếm tiền" (kiếm tiền) nhanh bằng mọi giá để trả
những khoản nợ vay nóng với lãi suất cao đang hàng ngày đè lên cổ họ.
Nhiều
người trong số này nói với tôi họ không ngờ “đi Tây”lại khổ như thế
này. Nhưng cũng có nhiều người nói rằng thế này vẫn còn sướng gấp vạn
lần ở nhà.
So sánh 'bình dân'
Bây giờ chúng ta xem đến những người Việt rất bình thường ở mức trung
bình mà họ chiếm số đông trong cộng đồng người Việt tại Đức. Hai vợ
chồng tự hành nghề kinh doanh hay đi làm công ăn lương hay một người làm
công một người tự kinh doanh... Thu nhập bằng hoặc hơn người Đức trung
bình xem họ có sướng như Tây không nhé!
Đối với người Đức bình
thường, khi ngoài rạp chiếu một bộ phim hay, thì họ háo hức cùng gia
đình hay bạn bè thu xếp thời gian đi xem. Chuyện rất bình thường. Người
Việt ta ít thấy có thói quen đó. Image caption
Một quầy hàng của người Việt Nam tại trung tâm thương mại Đồng Xuân, Berlin, CHLB Đức.
Khi có buổi hoà nhạc hay một băng nhạc được yêu
thích biểu diễn live ở sân khấu hay nhà hát nào đó, người Đức kháo nhau,
truyền tay nhau những tờ rơi quảng cáo và a lô cho nhau hẹn đặt mua vé
và cùng nhau đi xem, hoà mình vào không khí, giai điệu của những buổi
sinh hoạt nghệ thuật như vậy. Ít thấy người Việt có mặt tham gia những
sinh hoạt này.
Người Việt máu mê đá bóng không phải dạng vừa,
những giải bóng đá Thế giới hay Châu Âu hay Bundesliga (giải Ngoại hạng
CHLB Đức)... ở trong các khu chợ Việt thì rất náo nhiệt, nhưng vào sân
vận động của Đức thì tìm bằng ống nhòm cũng khó thấy có người Việt đi
xem. Không khí và cảm nhận ở sân vận động khác rất nhiều trước bàn bia
và màn hình phẳng!
Những buổi mở cửa các sinh hoạt ngoài trời tại
các công viên hay khu vực vui chơi giải trí cuối tuần, bãi cát cạnh bến
nước, Sở thú, vườn hoa, hội chợ... tràn ngập người Đức đến thưởng thức
thời gian thư giãn sau một tuần làm việc mệt mỏi. Họ không diện những bộ
quần áo đẹp đến những chỗ như vậy để tạo dáng chụp ảnh, họ đến chỉ đơn
giản để cho trẻ con thoải mái chạy nhảy, vui đùa.
Người lớn thì
nằm lim dim tận hưởng không khí thoáng mát hay đọc một quyển truyện ngắn
hoặc nói với nhau dăm ba câu chuyện vui vẻ hay hoà vào dòng người chảy
hội, hoặc đứng uống với nhau dăm ba cốc bia... Lớp trẻ thanh niên thì
đàn ca, hay vui đùa, tham gia các trò vui chơi giải trí...
Các cặp
tình nhân thì say đắm bên nhau... Họ đến để được hoà mình vào thiên
nhiên, con người, được sống trong một bầu không khí vui tươi. Họ đến đơn
giản để tận hưởng sự thư giãn cuối tuần. Nhìn quanh tôi thấy rất ít
người Việt có mặt trong những chỗ như vậy.
'Chém gió, múa quạt'
Chúng ta hay dùng từ tiếng Đức đi
‘Urlaub’, tiếng Việt có nghĩa là kỳ nghỉ ngơi. Nhưng 100 người thì 90
người lại về Việt Nam, 10 lần đi thì 9 lần về Việt Nam. Cũng dễ hiểu
thôi, vì nơi đó là quê hương, là Tổ quốc, nơi ấy có cha mẹ, anh em họ
hàng....
Thế nhưng trong những kỳ nghỉ ở Việt Nam có bao nhiêu
phần trăm trong số những người về quê được thực sự "nghỉ ngơi" đúng
nghĩa của nó.
Người Tây thì lại khác, 90% số người đi ‘Urlaub’ thì
họ ra khỏi vùng hay đi ra nước ngoài, ở khách sạn, không có bất cứ mối
lo lắng gì với họ hàng, người thân không có mặt cùng trong cuộc đi
nghỉ... Họ nằm dài thư giãn, nghỉ ngơi trên các bãi biển hay đạp xe, leo
núi, trượt tuyết hoà mình vào thiên nhiên... thực sự là nghỉ ngơi và
thư giãn.
Đại đa số trong số họ có mức thu nhập và tài sản chỉ ở mức trung bình. Image copyrightImage caption
Quán bia Đức ngay trong khu Đồng Xuân, Đông Berlin
Còn nhiều ví dụ nữa lắm. Nhiều khi tôi tự hỏi, người Việt chúng ta ở đâu trong những sinh hoạt như vậy.
Chúng
ta “đi Tây”đã lâu rồi, sống trong Xã hội Tây cũng đã lâu. Nhiều gia
đình thậm chí con cái nói chuyện với nhau toàn bằng tiếng Tây. Nhiều
người có nhiều "tiền Tây“ hơn nhiều gia đình Tây trung bình. Vậy lẽ ra
họ phải sướng như Tây hay hơn Tây chứ nhỉ.
Hay quan niệm "sung
sướng" của chúng ta chỉ là những bữa tiệc cuối tuần mà thường thì chuẩn
bị nấu nướng cho 20 người ăn, trong khi khách mời chỉ có 10 người?
Sau
khi no xôi chán chè thì các ông một là quay ra "chém gió“ hai là "múa
quạt“ tá lả, còn các bà thì buôn dưa lê, tán chuyện trên trời dưới bể
khoe con cái, khoe giàu sang, hàng hiệu...
Hoặc chúng ta cho rằng
sướng là khi đeo trang sức, mặc quần áo, giầy dép... "hàng hiệu“ trị giá
vài ba đến vài chục nghìn tiền Tây trên người, cưỡi trên con xe trên
trăm nghìn tiền Tây, ở trong những ngôi nhà vài trăm nghìn tiền Tây là
sướng? Hay có người có sở thích cứ trời nắng thay vì đi dạo chơi cùng
gia đình thì mang tiền ra phơi cho khỏi bị mốc và với họ vậy là sướng?
Quan niệm lớp trẻ
Mỗi
người có quan niệm sướng, khổ khác nhau, nhưng nhìn vào thế hệ thứ hai
sinh ra và lớn lên tại Đức thì chúng ta thấy các cháu có quan niệm về
lĩnh vực này khác hẳn chúng ta.
Còn nhớ khi các con tôi còn nhỏ vợ
chồng tôi vừa làm quán vừa có cửa hàng bán quần áo nhưng vì sẵn có "hoa
chân“ (tính thích đi du lịch), máu "bát ngát“ trong người, như bạn bè
hay nói, nên vợ chồng tôi thường cùng các cháu "Trên từng cây số“.
Cứ
cuối tuần, dành ra buổi chiều thứ 7 đi lấy hàng, còn ngày Chủ nhật đóng
cửa cả 2 cơ sở và tranh thủ đưa các con đi chơi. Các khu vui chơi giải
trí lớn (tiếng Đức gọi là Vergnügungspark) ở Đức, Pháp chúng tôi đã đưa
các con đến được trên chục nơi. Image caption
Tác giả Trần Mạnh Thái cho rằng người Việt Nam ở
nước ngoài cần xem lại quan niệm liệu có đúng là 'đi Tây sướng như Tây'
hay không.
Những nơi lớn như thế này phải đợi đến khi các cháu
nghỉ hè. Còn những nơi nhỏ hơn có thể đi cuối tuần thì không nhớ hết
được nữa. Vất vả nhưng giờ khi các con trưởng thành ra khỏi nhà thì lại
thấy may mắn là hồi đó nhờ có "hoa chân“ nên đã cùng các con được hưởng
những thú vui của Tây.
Bây giờ có muốn cũng khó có thể thường
xuyên cùng các con đi dã ngoại được nữa! Phải cảm ơn các con vì chúng
thích đi, đòi đi thì mình mới được hưởng lây theo sở thích của các con.
Thời gian trôi đi không thể quay lại được. Lỡ bỏ phí quãng thời gian
trôi qua sẽ không có cơ hội làm lại.
Nhiều người tích lũy hay vay
Ngân hàng tiền mua được nhà riêng để ở, mua được nhà để cho Tây thuê có
thêm thu nhập. Khi nói chuyện với con cái là sẽ để lại cho con lớn cái
nhà này, con bé ngôi nhà kia... Các cháu nói rất thật và thẳng thắn với
bố mẹ:
"Bố mẹ cứ giữ lấy mà dùng, chúng con không cần đến. Chúng con sẽ tự đi làm có thu nhập và tự lo được cho cuộc sống của mình“.
Đừng
nghĩ các cháu không biết quý trọng tấm lòng của cha mẹ. Đó là do các
cháu được nhà trường Tây dạy cho ý thức tự lập, không phụ thuộc nhờ vả
ngay từ khi còn ở nhà trẻ.
Thay đổi tư duy
Vậy khi các cháu lớn ra khỏi nhà hết và
có cuộc sống riêng thì chỉ còn hai ông bà ở với nhau trong ngôi nhà rộng
lớn với nhiều tiện nghi và đồ dùng sang trọng... nhưng tuổi già ập đến
kéo theo một đống bệnh tật mà ngày còn trẻ do mải lo kiếm tiền, cố tình
“hoãn binh” lại không dám bớt thời gian để đi khám, phát hiện ra bệnh để
sớm chữa trị.
Cũng có người biết mình có bệnh nhưng chỉ đối phó
bằng nhiều cách chữa trị tạm thời kiểu “hoãn binh” vì lý do không có
thời gian đi chữa bệnh. Thôi để khi nào rảnh rỗi có thời gian khám chữa
sau cũng được, bây giờ phải kiếm tiền đã, ai làm hộ được cho.
Thuê
người thì phải trả tiền công, thời buổi khó khăn tiếc tiền lắm... Đến
lúc này chúng ta không thể quay ngược dòng thời gian để làm lại những
việc với câu tiếc nuối nơi cửa miệng: "Giá như..." được nữa. Vậy thì
chúng ta có sướng như Tây được chưa? Image copyrightImage caption
Hàng quán trong khu chợ Đồng Xuân, Berlin
Người Việt làm nghề tự kinh doanh ở Đức thì làm gì
có thời gian! Bán lẻ thì suốt cả tuần mải lo "cày bừa“, nếu không làm
nghề dịch vụ thì được ngày Chủ nhật nghỉ làm phải dành thời gian cho bao
nhiêu việc khác.
Người làm dịch vụ như quán xá hay hoa tươi thì
không có ngày Chủ nhật. Những người làm nghề bán sỉ (giao hàng) thì
không có thứ Bảy và Chủ nhật, được nghỉ một ngày trong tuần thì là ngày
để giải quyết các việc của công sở chính quyền, con cái, nhà trường, mua
sắm.... Nói chung là không có thời gian "thừa“ để đi khám bệnh nếu căn
bệnh chưa quật ngã chúng ta.
Vậy thì những người được gọi là thành
đạt hay như vài người gọi là "Đại gia“, họ có sướng như Tây hay sướng
hơn cả những người Tây ở vào mức có thu nhập trung bình dù chỉ đủ ăn hay
không? Câu trả lời chắc ai cũng đã có!
Đến khi nào chúng ta mới
thay đổi được cách nghĩ để tự tạo cho chúng ta một "cuộc sống“ thực sự
cho ra sống, cho mình, cho người bạn đời đã vất vả, lăn lộn với mình
suốt mấy chục năm qua? Đến khi nào chúng ta, những người đang sống tại
trời Tây mới thôi nếp nghĩ làm hộ, lo hộ, bảo hộ quá đáng cho con cái
mình. Trong khi thực ra làm như vậy là vô tình làm hỏng con mình?
Nên
nhớ quỹ thời gian của chúng ta, thế hệ thứ nhất U 55, U 60 không còn
nhiều nữa! Vậy thì chúng ta “đi Tây”nhưng đã "sướng như Tây” được hay
chưa?