Trang

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

VÀI SUY NGẪM VỀ DI CHÚC CỦA BÁC HỒ




Bản Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất thiêng liêng đối với mọi người dân Việt nam chúng ta. Nó chứa đựng những suy nghĩ sâu sắc của Chủ tịch về con đường cách mạng của nhân dân ta đang đi những chặng cuối cùng tiến đến thắng lợi, những tình cảm thương yêu đối với toàn thể đồng bào trong Nam ngoài Bắc mà Người muốn để lại cho đời sau trước lúc đi xa. Vì lẽ đó mọi người Việt nam chúng ta luôn trân trọng, giữ gìn từng câu từng chữ trong bản Di chúc, tìm hiểu cặn kẽ những gì Chủ tịch muốn gửi gắm lại...Song việc đó không hề đơn giản. Dưới đây xin đăng lại ý kiến của một người đã nghiên cứu bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chi Minh.   

Trước hết, xin quý độc giả lưu ý rằng tôi không đánh giá về Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử. Đánh giá về các nhân vật lịch, về đóng góp và sai lầm của họ, là công việc của các sử gia chân chính.
Ở đây, tôi chỉ làm một việc duy nhất : khảo sát các văn bản di chúc của Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó chỉ ra một số điều mà văn bản cho phép nhìn thấy. Đúng hơn là các văn bản của Hồ Chí Minh cho phép đặt ra một số nghi vấn mà tôi không có câu trả lời. Tôi cũng không có tham vọng trả lời, tôi chỉ làm công việc đặt ra các câu hỏi.
Trong bài này, để tiến hành khảo sát các bản di chúc, tôi sử dụng các bản gốc đánh máy năm 1965 và bản gốc viết tay các năm 1968-1969, của Hồ Chí Minh, được công bố trong cuốn « Toàn văn di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh », NXB Trẻ, 1999.
Bản di chúc đầu tiên được đánh máy và ký ngày 15/5/1965, với sự chứng kiến của Lê Duẩn, lúc bấy giờ là Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương, có chữ ký của Lê Duẩn trong văn bản đánh máy.
Bản di chúc thứ hai, được viết tay, bằng mực xanh, vào dịp sinh nhật thứ 78, tức là vào tháng 5 năm 1968, với rất nhiều sửa chữa, gạch xóa bằng mực đỏ, không có chữ ký, không có người chứng kiến.
Bản thứ ba, đề ngày 10/5/1969, chỉ có một trang viết tay, với nội dung là phần mở đầu của di chúc.
Như vậy, có thể thấy, Hồ Chí Minh viết hoặc sửa di chúc vào mỗi dịp sinh nhật. Điều này cũng có thể hiểu được : chính là vào dịp sinh nhật mà người ta nghĩ đến quỹ thời gian còn lại của mình, nhất là đối với những người cao tuổi. Hồ Chí Minh đã chuẩn bị  cho cái chết của mình một cách đầy ý thức, từ nhiều năm trước khi chết.
Bản gốc di chúc thứ nhất và thứ hai đều có ghi quốc hiệu : « Việt Nam dân chủ cộng hòa/ Độc lập, Tự do, Hạnh phúc ». Và đều có ghi chú ở ngay dòng đầu tiên : « Tuyệt đối bí mật ». Đồng thời việc viết và sửa chữa di chúc nhiều lần, việc sửa chữa, thêm bớt từng chữ một, cho thấy rằng, đối với Hồ Chí Minh, di chúc là một văn bản hết sức quan trọng, hết sức có ý nghĩa đối với ông.
Tôi xin xác định rõ : ở đây tôi không đi vào phân tích toàn bộ các văn bản di chúc, không phân tích tư tưởng của Hồ Chí Minh, không đánh giá đúng sai. Có thể tôi sẽ làm việc đó vào một lúc khác nhưng không phải lúc này.
Nhận xét sơ bộ đầu tiên của tôi có thể tóm gọn trong mấy câu hỏi sau đây :
1. Vì sao từ bản di chúc thứ hai ông chọn hình thức viết tay, chứ không đánh máy nữa ? Liệu ta có thể nghĩ đến một trong những câu trả lời khả dĩ : « để không ai có thể sửa đổi hay đánh tráo được » ? Ta biết rằng đối với một văn bản đánh máy, trừ trang có chữ ký ra, bất kỳ trang nào cũng có thể bị thay thế mà… không để lại dấu vết gì. Dù sao đấy cũng chỉ là một phỏng đoán. Nhưng nếu quả thật Hồ Chí Minh đã có linh cảm và lo ngại rằng di chúc của ông sẽ bị sửa chữa sau khi ông chết thì linh cảm và lo ngại ấy quả là chính xác, vì đó chính là điều mà Bộ Chính trị đã làm.
2. Bản di chúc thứ hai, 1968, không có chữ ký, và không có người chứng kiến. Văn bản được công bố với rất nhiều sửa chữa cho phép phỏng đoán rằng đó có thể là một bản nháp. Câu hỏi là : từ sinh nhật 1968 đến sinh nhật 1969 ông Hồ Chí Minh hoàn toàn có thời gian để chép lại văn bản ngắn ấy thành một văn bản hoàn chỉnh, có chữ ký của ông đàng hoàng, như ông đã làm với văn bản thứ nhất, nhưng tại sao ông không làm điều đó ? Tại sao ông mất 5 năm để viết một di chúc,  thay đổi, sửa chữa rất nhiều, chứng tỏ nó rất quan trọng đối với ông, mà rốt cuộc ông chỉ để lại một văn bản dang dở và gạch xóa sửa chữa nhằng nhịt như vậy ? Liệu có phải ông Hồ đã viết lại sạch sẽ và ký cẩn thận, nhưng văn bản chính thức có chữ ký đó không còn nữa ?  
3. Văn bản năm 1969 chỉ có một trang viết tay, nội dung cho thấy đó là lời mở đầu di chúc, lặp lại một số nội dung đã từng viết ở phần mở đầu của những di chúc trước. Tuy nhiên trông nó như là bản nháp, vì đầu trang không đề quốc hiệu, cũng không có dòng chữ «Tuyệt đối bí mật », như hai bản trước.   Chẳng lẽ Hồ Chí Minh chỉ viết phần mở đầu mà không viết phần nội dung chính ? Điều này thật đáng ngạc nhiên. Bởi Hồ Chí Minh hiểu rõ tầm quan trọng của di chúc, hiểu rõ rằng di chúc của ông chính là một văn bản lịch sử. Câu hỏi đặt ra là : Liệu có phải văn bản năm 1969 chỉ có chừng đó không ?  Liệu có phải Hồ Chí Minh đã viết một bản di chúc thứ ba rất hoàn chỉnh, vào sinh nhật năm 79 tuổi, nhưng chỉ còn lại một trang nháp, và phần chính của nó đã bị thất lạc, hoặc bị hủy bỏ, hoặc không được công bố ?
Tại sao có những câu hỏi này ?
Lý do như sau : nếu so giữa bản di chúc thứ nhất và bản thứ hai sẽ thấy có những thay đổi rất quan trọng về nội dung. Điều đó cho phép giả định rằng Hồ Chí Minh có thể có những thay đổi còn căn bản và quan trọng hơn nữa trong bản thứ ba. Đồng thời ta cũng biết rằng, bản di chúc được Bộ Chính trị gọi là của Hồ Chí Minh và được Bộ Chính trị công bố sau khi ông chết đã bị sửa đổi so với bản gốc, và bị khôi phục lại những gì mà chính Hồ Chí Minh đã bỏ đi ở trong bản thứ hai. Ngoài ra ngày chết của ông cũng bị Bộ Chính trị tự ý thay đổi, và di nguyện quan trọng của ông về việc chôn cất đã bị Bộ Chính trị phản bội : di nguyện về việc hỏa táng và đem tro chia ra ba miền. Bản « di chúc Hồ Chí Minh » do Bộ Chính trị công bố năm 1969 là một văn bản bị cắt dán, ghép một số đoạn của cả ba văn bản di chúc gốc, đồng thời bị bỏ đi những phần quan trọng nhất liên quan đến việc chôn cất, đến việc miễn thuế cho dân, đến việc chỉnh đốn đảng và những việc cần làm đối với « con người ». Trên thực tế Hồ Chí Minh đã bị phản bội ngay khi vừa nhắm mắt.
Vì vậy, câu hỏi đặt ra là :
Liệu có thể xảy ra trường hợp : trong bản di chúc viết năm 1969 Hồ Chí Minh đã có những thay đổi khiến cho người ta không muốn lưu giữ văn bản ấy ? Liệu có phải bản di chúc cuối cùng, bản di chúc chính thức của Hồ Chí Minh (viết năm 1969,  với chữ ký của ông, và là bản mà ông muốn đưa ra trước toàn dân) đã bị biến mất, đã bị hủy bỏ, hoặc đã bị cất giấu, không được công bố ?
4. Bản đánh máy đầu tiên với đầy đủ tất cả những nghi thức cần thiết cho thấy rằng ông Hồ Chí Minh hiểu rõ thế nào là một bản di chúc. Vậy tại sao những bản di chúc về sau (được nhà nước công bố) lại ở trong tình trạng của bản nháp, gạch xóa, tẩy sửa, thiếu những nghi thức cần thiết đó ?
Và câu hỏi là : bản di chúc nào là bản mà ông Hồ muốn đưa ra trước toàn dân ?
 Dĩ nhiên, đó không phải là bản viết năm 1965, bởi nó đã bị thay thế bằng các văn bản khác. Từ những gì đã công bố, ít nhất ta biết rằng ông Hồ đã viết lại hoàn toàn di chúc vào sinh nhật năm 1968. Và trong bản gốc viết tay, ông nói rõ lý do, mặc dù sau khi cân nhắc ông gạch bỏ câu này : « Tháng 5/1968, khi tôi xem lại thư này thì tình hình trong nước cũng như tình hình thế giới có rất nhiều thay đổi ». Những thay đổi đó đã khiến cho cách nhìn nhận của ông thay đổi, và ông cảm thấy cần phải viết lại hoàn toàn. Cách đánh số trang của bản viết tay năm 1968 cho thấy rằng đó là một bản hoàn chỉnh, có logic riêng, có cấu trúc riêng, độc lập với văn bản năm 1965. Đó là một văn bản mới hoàn toàn. Việc quốc hiệu được ông Hồ ghi đầu trang cũng là một dấu hiệu xác nhận đó là một văn bản mới.  Vậy có nghĩa là văn bản năm 1965 đã bị thay thế bởi văn bản năm 1968. Và phải xem bản viết năm 1965 là không còn hiệu lực ?
Và điều quan trọng, xin nhắc lại : Hồ Chí Minh muốn công bố trước toàn dân bản di chúc nào ?
Chúng ta thấy rõ rằng ông viết di chúc cho toàn thể nhân dân. Bản viết năm 1968 cho thấy nhân dân là đối tượng chính mà ông nghĩ đến. Và việc chôn cất ông, theo như ông dặn lại trong di chúc,  là việc của đồng bào ba miền, chứ không phải là việc của Bộ Chính trị.
Thật đáng ngạc nhiên nếu ông muốn công bố cho toàn dân mấy văn bản gạch xóa, thêm bớt nhằng nhịt đó. Tiến hành viết di chúc trong vòng 5 năm hẳn ông phải có một bản hoàn chỉnh, rõ ràng, sạch sẽ, với chữ ký và người chứng kiến, một văn bản có giá trị pháp lý, như là văn bản đầu tiên ? Tại sao không có một văn bản như vậy ? Lẽ nào trước khi mất ông không dặn lại là phải công bố bản di chúc nào ? Phải chăng ông Hồ đã để lại một bản hoàn chỉnh, đảm bảo các thủ tục pháp lý, nhưng bản đó đã không được công bố ?
Những câu hỏi trên đây tôi không trả lời được. Tôi đã đọc rất kỹ cuốn « Bác Hồ viết di chúc » do NXB Sự Thật in năm 1989, được gọi là Hồi ký của Vũ Kỳ, do Thế Kỷ ghi, tuy nhiên tôi không tìm thấy câu trả lời khả dĩ nào cho các nghi vấn trên đây.
Hy vọng giới sử học chân chính một ngày nào đó sẽ làm sáng tỏ.
Trên thực tế chúng ta không biết bản nào là bản di chúc chính thức, chúng ta không biết Hồ Chí Minh muốn công bố bản nào. Hiện tại thì bản cuối cùng tương đối đầy đủ mà chúng ta có là bản thứ hai, bản được viết năm 1968. Và tôi đành phải làm việc trên những gì còn lại và được công bố.
Xin quý độc giả, và nhất là các bạn thanh niên và sinh viên đang bị nhồi nhét và bị tẩy não bởi phong trào « Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh », hãy đọc kỹ các văn bản gốc của Hồ Chí Minh ở phần phụ lục dưới đây. Các bạn hãy đọc kỹ những gì đã bị ông ấy bỏ đi trong bản di chúc thứ hai, và hãy tự phân tích xem vì sao ông ấy không muốn giữ chúng lại, vì sao ông ấy xóa bỏ đi, và vì sao chúng lại được Bộ Chính trị khôi phục trong bản « di chúc» mà họ công bố năm 1969 sau khi ông ấy chết.
Có thể các bạn sẽ cảm nhận được sự dối trá đang đè nặng lên cuộc sống của các bạn như thế nào khi các bạn đối chiếu với những gì mà các bạn đang được rao giảng, qua tài liệu của Ban Tuyên giáo soạn cho các bạn. Có thế các bạn sẽ đặt câu hỏi về việc tại sao Đảng, Nhà nước lại chi tiêu tốn kém như vậy cho cái màn kịch khổng lồ đem diễn trên toàn quốc (nhất là trong các trường học) từ nhiều năm nay về việc « học tập » này.
Có thể các bạn sẽ xác định được vì sao những người cố tình phản bội Hồ Chí Minh lại bắt các bạn phải « học tập » ông ấy. Và có thể các bạn sẽ thấy rằng những thứ họ đang nhồi nhét các bạn lại chính là những thứ mà bản thân Hồ Chí Minh đã từ bỏ, trước khi chết.

                                          Nguyễn Thị Từ Huy, 23/4/2015


Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

NẾU ÔNG NGUYỄN TẤN DŨNG LÀ NHÀ CẢI CÁCH

  KAMIBLOG - Ngày 12 / 5 / 2015



Trong những ngày này, ở Việt nam vấn đề được dư luận quan tâm nhất có lẽ không ngoài vấn đề nhân sự Đại hội Đảng CSVN lần thứ XII, dự kiến sẽ khai mạc vào cuối tháng 1/2016. Và điều được người ta bàn tán nhiều nhất, không ngoài vấn đề ai sẽ là Tổng Bí thư Đảng CSVN sau Đại hội XII?

Có lẽ dư âm của  Hội nghị TW11 cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề này. Đặc biệt là vấn để tiêu chuẩn lựa chọn Uỷ viên Trung ương Đảng, được thể hiện qua bài diễn văn bế mạc Hội nghị  TW11 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, được dư luận hết sức quan tâm. Đó là điều mà dư luận đồn đoán và cho rằng đây là một thông điệp của ông Nguyễn Phú Trọng nhằm ngầm chỉ tới một lãnh đạo cao cấp trong Đảng. Người đó không phải ai khác, chính là Thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng, một ứng viên được dư luận cho là sáng giá đối với chức vụ này.
Cộng với điều không phải là ngẫu nhiên, đó là việc ngay sau khi Hội nghị TW11 bế mạc, thì buổi chiều 8/5/2015 tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các thành viên Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, đơn vị bầu cử số 1 đã tiến hành tiếp xúc cử tri quận Hoàn Kiếm. Tại đây, khi trao đổi với các cử tri Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng “Bí thư kiêm chủ tịch thì to quá, ai kiểm soát ông?”. Điều này được coi là bằng chứng rõ nét nhất cho thấy Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và không ít các lãnh đạo cao cấp trong Đảng CSVN đã và đang lo ngại vai trò của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Tuy vậy, việc gần đây truyền thông trong nước ít đưa tin về các hoạt động của Thủ tướng, cộng với điều được dư luận cho rằng hết sức bất thường, đó là việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lớn tiếng "Chửi Mỹ, vái Tàu" trong bài diễn văn quan trọng tại lễ kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước. Thì cũng có luồng ý kiến cho rằng Thủ tướng Dũng đang chịu một sức ép đáng kể từ phía Đảng và tham vọng của ông Dũng muốn ngồi chiếc ghế Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước theo mô hình Trung quốc, kiểu như ông Tập Cận Bình hiện nay có lẽ sẽ phá sản.
Dù sao dư luận vẫn chỉ là sự đồn đoán hay dự đoán, không phải là kết quả chính xác cuối cùng, vì khi đưa ra mỗi luồng ý kiến thì người ta luôn luôn có lý lẽ để bảo vệ ý kiến của họ. Trong bài viết này xin được đặt câu hỏi: Nếu như ông Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng Bí thư Đảng CSVN kiêm Chủ tịch nước rồi sẽ tiến hành cải cách thể chế chính trị thì điều gì sẽ xảy ra? Với mục đích để công luận phân tích và tìm hiểu câu trả lời.
Cách đây không lâu, nếu theo dõi chính trị Việt nam thì người ta sẽ thấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thường có các tuyên bố hay chỉ thị "đi ngược đường lối của Đảng CSVN" để "mỵ dân", nhằm chứng tỏ mình là một người có tư tưởng cải cách để hướng tới một xã hội tự do, dân chủ theo xu hướng của nhân loại văn minh. Ví dụ như Thông điệp đầu năm mới năm 2014, đã đề cập tới việc cải cách dân chủ để hướng tới một nhà nước pháp quyền, ở đó công dân được làm những điều pháp luật không cấm, còn công chức chỉ được thực hiện những điều luật pháp cho phép. Hay đưa kinh tế Việt nam trở thành một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, thay cho Kinh tế thị trường định hướng XHCN. v.v... và v.v...
Điều đó đã khiến cho đa số những người quan tâm đến chính trị hy vọng và nóng lòng chờ đợi, kể cả đa số những người trong lực lượng đấu tranh cho Dân chủ ở Việt nam cũng khấp khởi hy vọng và mong đợi sự cải cách chính trị từ phía chính quyền. Nhiều người hy vọng ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ là một nhà cải cách như Gorbachev, sẽ xóa bỏ chế độ cộng sản để mang lại tự do và dân chủ đến cho Việt nam.
Nếu hiểu rằng "Đừng nghe ông Dũng nói, hãy xem ông Dũng làm", thì sẽ thấy rất có khả năng chiêu bài cải cách Dân chủ của Thủ tướng sẽ là một cú lừa ngoạn mục. Vì tự do và dân chủ phải đấu tranh để giành lấy mới có được, chứ không có ai mang đến cho ta. Do vậy, cải cách của Thủ tướng Nguyên Tấn Dũng nếu có, nhưng chỉ là sự cải cách nửa vời để đưa chính trị Việt nam sẽ trở thành gần giống với chính trị nước Nga dưới sự cai trị của V. Pu tin hiện nay.
Được biết, từ trước đến nay, mô hình quản trị nước Nga dưới sự cai trị của V. Pu tin hiện nay đã được các nhà lãnh đạo Việt nam hết sức quan tâm và cho rằng sẽ được áp dụng trong trường hợp tình thế bắt buộc họ phải cải cách thể chế chính trị. Đó là mô hình một quốc gia dân chủ dưới sự dẫn dắt của một lãnh tụ mang hơi hướng độc tài, và vẫn đậm chất cộng sản, nghĩa là vẫn tồn tại sự kiểm duyệt chặt chẽ của nhà nước đối với các phương tiện thông tin đại chúng và các vi phạm khác về quyền con người. Tuy vậy, ở một chừng mực nào đó mô hình này được coi là thành công, vì đã đưa nước Nga phục hồi và lớn mạnh đáng kể sau khi chế độ cộng sản sụp đổ.
Ở Việt nam hiện nay, có thể nói ông Nguyễn Tấn Dũng là một chính trị gia lắm mưu, nhiều kế và luôn tỏ ra là người biết làm chính trị. Chỉ trong vòng 10 năm đảm trách chức vụ Thủ tướng (02 nhiệm kỳ), với một bộ tham mưu giỏi ông Dũng đã thu vào tay mình gần hết các quyền lực của nhà nước Việt nam, cùng với việc nắm trong tay hệ thống chân rết quyền lực từ trung ương đến địa phương. Điều đó đã khiến ông Dũng trở thành một một đối thủ chính trị đáng sợ cho bất cứ ai.
Chỉ cần nói một việc nhỏ, đó là với quyết định của Thủ tướng khi đưa các Tập đoàn Tổng Công ty vốn là Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc các Bộ, ngành trở thành các quả đấm thép trực thuộc trực tiếp Thủ tướng. Việc này đã nâng quyền lực về kinh tế của Thủ tướng Dũng lên gấp hàng trăm lần, dù rằng các quả đấm thép đó đã đổ vỡ, gây ra biết bao tai tiếng, và thiệt hại về kinh tế khổng lồ như các vụ Vinashin, Vinaline. v.v... Qua việc này để thấy, cách làm của Thủ tướng Dũng chỉ có được và được, mà không hề hấn gì, thiệt hại thì đã có "Đảng và nhà nước lo. Nhân dân chịu". Đó là chưa kể đến việc hiện nay, ông Dũng đã cài cắm con cái mình vào các vị trí quan trọng và có nhiều triển vọng, kể cả việc kế nhiệm thay ông Dũng trong tương lai.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có nhiều điểm tương đồng với V. Putin, vốn xuất thân từ nhà binh, trước là quân nhân, sau là quan chức cao cấp nghành công an. Vốn là một con người khá độc đoán, cộng với bề dày các thành tích đàn áp dân chủ từ trước đến nay. Điều đó sẽ cho thấy, nếu ông Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước, khi đó mọi quyền lực đã nằm trong tay thì có nhiều khả năng ông Dũng sẽ xúc tiến cải cách thể chế chính trị để trở thành một Tổng thống độc tài. Nếu như vậy thì tương lai của người Việt nam sau khi thoát một chế độ độc tài toàn trị được cai trị bởi những ông Vua tập thể của Đảng CSVN, rồi sẽ chuyển qua một chế độ bề ngoài mang hơi hướng Dân chủ, nhưng thực chất dưới sự cai trị của một vị Tổng thống độc tài (vẫn mang nặng tính Cộng sản) thì điều gì sẽ xảy ra?
Nếu điều đó thành hiện thực, thì Việt nam sẽ trở thành một quốc gia theo thể chế chính trị cộng hòa, có nền chính trị đa nguyên và người đứng đầu là Tổng thống Nguyễn Tấn Dũng. Song vị tổng thống này sẽ có nhiều khả năng là một lãnh tụ độc tài và gia đình trị. Và Việt nam khi ấy, sẽ có một nhà độc tài tàn bạo kiểu như Stalin, thậm chí là Hitler là điều khó có thể tránh khỏi. Hoặc nếu may mắn hơn thì có một lãnh tụ độc tài "nhân từ" kiểu như ông Lý Quang Diệu (tuy rằng khả năng này hầu như là không thể có đối với một người độc đoán như ông Nguyễn Tấn Dũng).
Không biết đến lúc đó đất nước Việt nam sẽ khá lên được hay không? Hay chúng ta một lần nữa lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn "Tránh vỏ dưa, lại gặp vỏ dừa", vốn là một cái kết cục không mấy tốt đẹp dành cho những kẻ thích nằm chờ sung rụng?
Và khi ấy có lẽ những người đấu tranh cho dân chủ lại hô hào đoàn kết lại để chống độc tài (!?)
Ngày 12 tháng 05 năm 2015

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

THẾ MỚI LÀ VĂN MINH

Hòa giải, hòa hợp dân tộc đang là nguyện vọng thiết tha nhất của người dân Việt nam ta. Đặc biệt là trong dịp kỉ niệm 30 tháng tư năm nay. Hãy xem thế giới đã làm việc này như thế nào và liệu ta có thể làm theo được không.

Ngoại trưởng Đức Steinmeier đã xin lỗi người dân Volgograd vì những tội ác của Đức quốc xã




"Thay mặt nước Đức, tôi xin lỗi vì những đau khổ không thể tính được mà người Đức đã mang tới đây,"  người đứng đầu Bộ Ngoại giao Đức nói.

VOLGOGRAD, 7 tháng Năm. / TASS /. Tại Stalingrad một sự kiện có tính bước ngoặt quyết định, cho phép bắt đầu quá trình giải phóng châu Âu khỏi ách thống trị của Đức quốc xã đã được thực hiện. Hôm Thứ năm, Ngoại trưởng Đức Frank-Walter Steinmeier nói điều này, khi phát biểu tại buổi hòa nhạc "Âm nhạc của hòa bình - phản đối chiến tranh".

"Các công dân Volgograd thân mến. Nơi này từng là nơi của chiến tranh, và hôm nay là nơi hòa giải, - ông nói -. Âm nhạc của các bạn - đó là biểu tượng của sự hòa giải được ngân vang". "Volgograd -. Đây là thành phố- anh hùng. Nhưng những người anh hùng này là ai? Đó là những người đã trải qua những đau thương không gì có thể tả được, những người mẹ và người cha, những đứa con gái và con trai, thường dân và binh lính". Người đứng đầu Bộ trưởng Ngoại giao Đức nói tiếp: "Những người này đã làm cho bước ngoặt quyết định đầu tiên trong chiến tranh trở nên có thể, những người này ở đây, tại Stalingrad, đã bắt đầu quá trình giải phóng toàn châu Âu khỏi ách phát xít. Để thực hiện điều này, họ đã chịu đựng những tổn thất không thể kể xiết và không thể tính hết được".

"Tôi kính cẩn  nghiêng mình trước những nạn nhân này, tôi cúi xin chịu tang - Steinmeier nói -. Thay mặt nước Đức tôi cầu xin tha thứ vì những đau thương không thể tính hết được mà người Đức mang đến đây - ở đây, trong thành phố này và trên toàn nước Nga, tại tất cả các vùng miền của Liên Xô trước đây, mà ngày nay thuộc về Ucraina Belarus, khắp châu Âu".

-----

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

CÔNG CHÚA CHÀO ĐỜI - ĐÔI ĐIỀU NGẠC NHIÊN THÚ VỊ

Sự kiện công chúa nước Anh chào đời và niềm vui rất vô tư của người dân nước Anh gợi ra một suy nghĩ là Hoàng gia Anh được dân chúng yêu mến và gưỡng mộ đến nhường nào. Và nếu ở ta thì sẽ ra sao khi con cháu của tứ trụ sinh con?Bài dưới đây còn có những chi tiết đáng ngạc nhiên và thú vị nữa....

Công chúa chào đời, ngành dịch vụ Anh hốt bạc

mediaCông Công chúa mới chào đời của công nương Kate và hoàng tử William.   REUTERS/John Stillwell/pool
Chiều nay (14h giờ London, 20h giờ VN) hàng trăm loạt đại bác nổ rền ở Luân Đôn và đồng thời ở Cardiff và Edinburgh để chào đón công chúa mới ra đời, con của đôi vợ chồng hoàng gia William – Kate, là nhân vật thứ tư trong danh sách kế vị ngai vàng. Đó là đỉnh điểm của rất nhiều sự kiện đã làm nóng dư luận Anh trong hai ngày qua. Từ Luân Đôn, thông tín viên Lê Hải cho biết chi tiết về không khí lễ hội.
Bắn đại bác là nghi lễ truyền thống của Hoàng gia Anh khi đón tiếp nguyên thủ quốc gia. Chính thức là khẩu đội pháo Wellington sẽ bắn 21 phát đạn ở khu vườn Green’s Park ngay cạnh lâu đài Buckingham, là nơi mà ngày hôm nay (04/05/2015) cả dân du lịch lẫn người dân Anh kéo về ăn mừng. Sau đó họ có thể bắn thêm 20 phát nữa cho vui. Trong một sự kiện được coi là trọng đại thì tất cả những địa điểm được coi là lâu đài hoàng gia đều có thể bắn đại bác theo nghi thức tương tự, tức là 21 phát đạn chính thức rồi tiếp theo là 20 phát đạn nối tiếp, và lại thêm 20 phát đạn nối tiếp nữa, thành ra có nơi như công viên Hyde Park sẽ bắn tổng cộng là 41 phát, hay khu vực Tower of London và khu tài chính City of London sẽ bắn gộp chung lại là 62 phát đạn đại bác.
Du khách tha hồ chụp ảnh, và người dân Anh thì tha hồ nâng cốc salute hoàng gia trong tiếng đạn đại bác không ngưng nghỉ. Nghi thức bắn đạn đại bác xuất phát từ các chiến hạm Anh khi ngưng chiến thì bắn cho đến khi hết đạn, vừa để tỏ thiện chí là mình không còn vũ khí nữa, vừa để ăn mừng hòa bình. Sau này nghi lễ bắn súng chào nguyên thủ quốc gia được nhiều nước áp dụng và hôm nay hàng trăm loạt đại bác đã vang rền khắp thủ đô London để chào đón công chúa hoàng gia, người xếp hàng thứ tư trong danh sách kế vị ngai vàng.
Trong dịp này người ta không chỉ bắn pháo mừng ở rất nhiều nơi tại London mà còn ở thủ phủ Cardiff của xứ Wales và cố đô Edinburgh của xứ Scotland. Hôm nay là ngày nghỉ Bank Holidy của người Anh cho nên cả nước tràn ngập trong không khí ăn mừng, liên tục nối tiếp nhau trong ba ngày qua, từ sau khi công chúa cân nặng 3,7kg chào đời lúc 8h34 sáng thứ Bảy tại bệnh viện St Mary ở khu Paddington, ngay cạnh lâu đài Kensington nơi hoàng tử William và công nương Kate đang sống.
Hoàng gia Anh: chủ đề khai thác vô tận của giới báo chí
Các trang mạng đánh cá hốt bạc vì lượng người kéo vào đặt cược xem công chúa sẽ được đặt tên gì, mà ba tên được dân chúng ưa chuộng nhất là Charlotte, Alice và Olivia. Hiện báo chí đồn đoán rằng những người thân trong gia đình đã được cho biết về tên gọi của em bé, và thái tử Charles tức là ông nội thì trước đó đã mong sẽ có cháu gái và chắc chắn là gia đình hoàng gia đã bàn luận với nhau về chuyện đặt tên. Hoàng gia Anh luôn là câu chuyện rất nhiều chiều để có thể khai thác từ đủ mọi góc cạnh khác nhau. Trước hết, có rất nhiều người dân Anh yêu mến hoàng gia và quan tâm đến mọi diễn biến và một sự kiện quan trọng như thế này là điều không thể bỏ qua.
Từ cả tuần lễ trước người ta đã nghiên cứu lịch hẹn của công nương Kate để đoán xem cô sẽ sinh con ở gần nhà hay ở các bệnh viện gần nơi công du. Khi công nương vào viện thì người ta ngay lập tức kéo tới dựng lều ở bên ngoài để mong đợi được nhìn mặt em bé. Cánh phóng viên paparazzi thì khỏi phải nói, liên tục túc trực để săn ảnh kiếm tiền. Và đôi vợ chồng William-Kate cũng rất hào phóng, chỉ vài giờ sau khi đẻ đã bế con ra ngoài cho mọi người xem và chụp hình rồi mới quay vào trong đi xe hơi về thẳng nhà.
Bên cạnh người dân Anh là vô số khách du lịch hiếu kỳ, mà sự hâm mộ của họ dành cho hoàng gia có thể thấy qua những món quà lưu niệm mà họ mua đem về, hầu hết đều liên quan đến các nhân vật hoàng gia mà đôi vợ chồng William và Kate là mối quan tâm đặc biệt nhất. Đám cưới của họ được truyền hình trực tiếp đến hàng trăm triệu người xem trên toàn thế giới, cho nên chuyện họ sinh con là sự kiện quan trọng không thể nào bỏ qua nếu có điều kiện sang Anh du lịch. Thậm chí ở tận nước Nga xa xôi báo chí cũng chạy bài bình luận cho rằng phụ nữ không thể nào vừa mới sinh con vài giờ đồng hồ mà đã khỏe mạnh và xinh đẹp, tươi tắn đem con bước ra cửa cho mọi người chụp ảnh, như trên tờ Komsomolskaya Pravda.
Nếu chưa một lần sang Anh thì có lẽ sẽ khó hiểu được điều như vậy trong văn hóa Anh, sinh xong là đi thẳng về nhà chứ không nằm lại trong bệnh viện, và nhiều phụ nữ xách thẳng con ra nhà hàng để ăn một bữa cho đã thèm, hay đi làm móng tay, đi xem phim và cà phê với bạn bè. Cô công chúa mới sinh ra sáng thứ Bảy thì buổi chiều đã có khách đến thăm ở lâu đài Kensington, và hôm qua – Chủ Nhật thì đi cùng cha mẹ đi thăm ông bà cô chú, còn hôm nay thì cùng bố mẹ về trang trại hoàng gia Sandringham ở Norfolk cần Cambridge để nghỉ ngơi.
Công chúa ra đời: ngành dịch vụ hốt bạc ?
Nếp sống hoàng gia thường trở thành trào lưu cho văn hóa Anh, ví dụ như bệnh viện nơi sinh con, hay nhãn hiệu túi xách và xe nôi cho em bé, cho đến quần áo, và các loại sản phẩm khác. Tất cả những gì có liên quan đến hoàng gia Anh đều cao giá hơn bình thường, ví dụ như mới đây một căn hộ hai phòng ngủ trong khu chung cư ngay cạnh lâu đài Buckingham của nữ hoàng được bán từ 4-8 triệu bảng Anh, mà ngay khi có giấy phép xây dựng thì hầu như đã có khách mua sạch, cả dân giàu ở nước ngoài lẫn người dân Anh nội địa.
Một chuyên gia kinh tế trên tờ nhật báo Mirror của Anh ước tính sự kiện công chúa chào đời đã đem lại cho nền kinh tế nước Anh 150 triệu Bảng, mà nếu chỉ tính riêng mặt hàng đồ lưu niệm đã là khoảng 35 triệu. Sự kiện trước đây khi hoàng tử George tức là anh trai của cô ra đời cách đây hai năm được ước tính là đã tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế Anh là 250 triệu Bảng.

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

NGÀY SUY NGẪM CỦA DÂN TỘC

Tôi đã đọc khá nhiều bài viết về ngày 30 - 4, cảm thấy hoang mang vì tính chất phức tạp của chủ đề làm mình khó xác định điều gì là sự thật, điều gì là dối trá; điều gì là đúng, điều gì là sai. Tôi không muốn nhìn vấn đề một cách đơn giản vì mình thuộc bên thắng cuộc. Dân tộc VN đã đi qua một chặng đường vô cùng phức tạp, nhiều mất mát đau thương và tôi muốn biết vì sao lại như vậy và phải làm sao để dân tộc VN thoát ra khỏi những hoàn cảnh trớ trêu, cùng nhau xây dựng một đất nước giàu mạnh bù đắp cho những mất mát đau thương từng gánh chịu. Trong tâm cảm như vậy xin giới thiệu bài viết mà tôi cho là rất đáng đọc dưới đây:   

NGÀY SUY NGẪM CỦA DÂN TỘC
 
- Thay vì “Ngày toàn thắng”, “Ngày thống nhất”, “Ngày quốc hận”... ngày 30 tháng 4 năm 1975 từ nay nên được coi là “Ngày suy ngẫm” của dân tộc.
Chris Tran.
 
Hà Nội, Chủ nhật, 26 tháng 4 năm 2015.
 
Ký ức về cuộc chiến
Tôi sinh ra trong một gia đình cha mẹ là những đảng viên cộng sản tập kết ra miền Bắc vào năm 1954. Những người như cha mẹ tôi là thiểu số trong đại gia đình hai bên. Đa số họ ở lại miền Nam. Và rồi Tổng tuyển cử không diễn ra như dự kiến do Hiệp định Geneva bị phá vỡ. Đất nước bị chia cắt thành hai miền, Bắc và Nam. Cơ hội thống nhất trong hòa bình đã bị bỏ lỡ.
Tuổi thơ của tôi trải qua toàn bộ thời kỳ chiến tranh mà đối với miền Bắc Việt Nam là hai giai đoạn Mỹ ném bom, lần thứ nhất là từ 1964 đến 1968, và lần thứ 2 là từ tháng 4 năm 1972 đến tháng 12 năm 1972, đánh dấu bằng thất bại của chiến dịch rải thảm B52 của Mỹ, với tuyên bố của Tổng thống Mỹ Nixon “đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”.
Với những cuộc ném bom hủy diệt miền Bắc và đưa một nửa triệu quân đổ vào miền Nam, Mỹ đương nhiên được coi là xâm lược Việt Nam, và bị cộng đồng quốc tế kịch liệt phản đối, với phong trào chống can thiệp của Mỹ vào Việt Nam diễn ra trên khắp thế giới.
Cha mẹ tôi không kể nhiều cho các con của mình về những người thân ở miền Nam, ngoại trừ một người cậu của tôi, một Việt Cộng ở Quảng Nam bị mù hai mắt vì trúng bom Mỹ, được đưa ra miền Bắc và có thời gian an dưỡng ở Trung Quốc. Sau năm 1975 tôi được biết rằng, tất cả những người khác trong gia đình hai bên cha mẹ tôi đều là những người phục vụ chính quyền Sài Gòn, dân sự hay quân sự.
Thế rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến...
“Đất nước hoàn toàn thống nhất, sạch bóng quân thù, non sông từ nay liền một dải...” - Đó là những gì mọi người luôn được nghe những ngày sau đó trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng. Sau ngày đầu tiên cùng nhà trường đi diễu hành mừng “miền Nam giải phóng” hô khẩu hiệu đến khản giọng, tôi trở lại cuộc sống bình thường với tâm trạng háo hức, tò mò của một thiếu niên về chuyến vào Nam gặp người thân họ hàng mà tôi chưa từng biết.
 
Thống nhất đất nước và hai phía của gia đình
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu thời kỳ “Đất nước thống nhất”.
Thông tin tuyên truyền từ miền Bắc làm cho người ta phân biệt “nhân dân miền Nam” - những người được xem là sống dưới ách kìm kẹp của chế độ Sài Gòn, với “ngụy quân và ngụy quyền” - những người phục vụ trong bộ máy nhà nước và quân đội của chính quyền Sài Gòn, “tay sai” của đế quốc Mỹ.
Thông tin tuyên truyền từ miền Nam làm cho người ta khiếp sợ về một cuộc trả thù “tắm máu” của cộng sản, về chế độ “cộng vợ, cộng chồng”... nếu miền Bắc chiến thắng.
Bất chấp tuyên truyền từ hai phía làm cho người ta dễ dàng có những dự cảm tiêu cực về người thân trong một gia đình từ hai miền Nam và Bắc, các cuộc đoàn tụ với người thân cả hai bên nội ngoại của gia đình tôi đều chan chứa tình cảm ruột thịt.
Khi đó, tôi không thấy sự thấp kém của những người thân được coi là “ngụy quân, ngụy quyền” như tuyên truyền, và tôi tin những người thân của gia đình tôi cũng không coi chúng tôi, những người từ miền Bắc vào là “cộng sản man rợ”. Tình yêu thương gia đình trong dòng họ tràn ngập trong chúng tôi. Không những thế, tôi còn chứng kiến sự ngưỡng mộ của những người thân từ miền Nam đối với cha mẹ tôi là những người thành đạt và có địa vị xã hội nhất định trong chính quyền miền Bắc Việt Nam, cũng như thấy cha mẹ tôi ngưỡng mộ những người thân thành đạt trong chính quyền miền Nam Việt Nam, từ sĩ quan quân đội đến nghị sĩ quốc hội.
Và tôi cũng thấy điều hoàn toàn tương tự ở những gia đình có người thân từ cả hai miền Bắc, Nam. Tuy nhiên, không ai biểu thị tình cảm đó một cách công khai, mà chỉ trong gia đình, với người thân mà thôi.
Sau này trưởng thành, xây dựng gia đình, tôi lại được chứng kiến mạnh mẽ một lần nữa bức tranh đó ở gia đình của vợ tôi, một gia đình có nhiều người thành đạt và có địa vị xã hội ở cả hai chính quyền miền Bắc và miền Nam.
 
Cải tạo, phân biệt đối xử
Đó là trong gia đình, còn ở bình diện xã hội, mọi điều diễn ra rất khác. Có rất nhiều người thân của gia đình tôi thuộc “ngụy quân, ngụy quyền” phải trải qua những năm cải tạo khắc nghiệt, từ vài năm đến hàng chục năm.
Sau những cuộc cải tạo đó, không một ai cải tạo cả.
Cậu tôi, một trung tá tâm lý chiến của quân đội Sài Gòn khi chiến tranh chấm dứt, có nói với tôi sau khi đi trại cải tạo về: “Cải tạo gì? Chính họ được cậu cải tạo họ vì họ có biết gì đâu”. Nếu biết nội dung của những cuộc cải tạo đó là gì, chắc ngày nay người ta đều đồng ý với cậu tôi.
Rất nhiều người, sau những cuộc cải tạo đó đã lựa chọn định cư ở Mỹ.
Một người anh họ của tôi, chỉ là một giáo viên dạy tiếng Anh giỏi, cũng bị sa thải, phải kiếm sống bằng nghề xe đạp ôm và không bao giờ trở lại sự nghiệp của mình nữa.
Con cái của những người thuộc chế độ Sài Gòn còn không được học hành như các bạn cùng trang lứa, như không thể vào trường đại học, không được du học... Khi tương lai mờ mịt, họ phải tìm đường di cư ra nước ngoài.
Trong hàng triệu người bỏ nước sau 1975, cho đến những năm 1990 có những người thân của tôi. Có người phải “vượt biên” tới bảy lần, vô cùng tốn kém và nguy hiểm, mới có thể định cư ở nước ngoài. Có trường hợp nhiều gia đình người thân của tôi tổ chức cùng vượt biên, và may mắn thành công. Sau này tôi mới được nghe về thảm họa “thuyền nhân” với hàng chục ngàn người Việt Nam mất mạng dưới biển hay vào tay cướp biển.
May mắn thay, thế giới đã dang tay đón nhận họ khi họ bị từ chối ở chính quê hương mình. Chỉ mới năm 2013, tôi mới được biết đất nước Israel nhỏ bé cũng từng đón nhận hàng trăm thuyền nhân từ Việt Nam, điều mà nhiều người Việt Nam không hay biết.
Tôi vẫn còn thắc mắc, vì sao một thảm họa nhân đạo quy mô toàn cầu như vậy lại không được ghi lại ở bất kỳ đâu trên thế giới, như những khu tưởng niệm về diệt chủng người Do thái của chủ nghĩa phát-xít tại nhiều nơi trên thế giới, để không bao giờ nó được lặp lại?
 
Ngày chiến thắng, ngày quốc hận và chia rẽ
Những ngôn từ cao sang nhất đã được giành cho chiến thắng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, với đỉnh cao là “Chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc” mà số người Việt Nam đồng ý hay không đồng ý có lẽ đều là hàng triệu.
Ở phía khác... Mãi đến năm 2000, kỷ niệm 25 năm ngày chiến tranh kết thúc, tôi mới được biết và chứng kiến lễ kỷ niệm “Ngày quốc hận” tại Washington DC. Và số người Việt Nam đồng ý hay không đồng ý về tên gọi của ngày này có lẽ cũng là hàng triệu. Tôi cảm thấy có lỗi khi biết về ngày này quá muộn để có thể chia sẻ về đau thương và mất mát của hàng triệu người Việt xa xứ, trong đó có những người thân của tôi, và hàng triệu người đã phải trải qua cơn ác mộng về cải tạo, về phân biệt đối xử, và trên tất cả, về thảm họa thuyền nhân.
Trong ngày lễ kỷ niệm đó, đi dọc theo Washington Mall, trong vô số biểu ngữ, tôi thấy có “Ở đâu có cộng sản, ở đó có chia rẽ”. Tôi dịch cho anh bạn Mỹ đi cùng, người đã từng phục vụ trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Anh ta nói: “Người Việt Nam các anh, ở đâu cũng chia rẽ”. Với hiểu biết của mình ở phía khác, miền Bắc, tôi không có gì khác hơn là đồng ý với anh bạn Mỹ đó.
Và tôi lại nhớ đến câu nói của người cậu trung tá tâm lý chiến: “Không có một dân tộc nào nói về đoàn kết nhiều, mà lại chia rẽ như dân tộc Việt Nam”.
Ông cũng là người nói với tôi sau khi đi cải tạo về, những năm 1980: “Đừng tưởng thắng nhau là vinh quang. Việt Nam chỉ là con bài trong ván bài của các nước lớn, là Mỹ, là Liên Xô, là Trung Quốc”.
Đó là điều chua xót, đáng suy ngẫm của người Việt Nam về sự chia rẽ bị lợi dụng của mình.
 
Bắc hay Nam, bên này hay bên kia
Người ta có thể phân chia người Việt Nam một cách đơn giản là người Bắc và người Nam, cộng sản hay không cộng sản, thắng cuộc hay thua cuộc. Sự phân chia phiến diện từ tiềm thức này là cơ sở của sự chia rẽ người Việt Nam.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, yêu quý thành phố tươi đẹp này, nhất là những năm tháng của tuổi thơ khi nó còn là đẹp nhất - Tôi là một “người Bắc”. Quê nội ngoại của tôi ở Quảng Nam, dù chỉ về thăm vài lần trong đời, nhưng cảm thấy thân thương, ruột thịt - Tôi là một “người Nam”. Cha mẹ tôi là đảng viên cộng sản. Mẹ tôi là một đảng viên mẫu mực với nhiều thành tích đóng góp cho xã hội, cha tôi là một đảng viên, mà theo lời ông, “chạy sang phía Việt Minh, vào đảng cộng sản vì sợ bị thủ tiêu” (cha tôi từng là một đảng viên của Quốc dân đảng) - Gia đình tôi là cộng sản. Tôi từng có nhiều năm phấn đấu, nhưng rồi từ bỏ và không bao giờ là đảng viên cộng sản - Tôi vừa là cộng sản, vừa không phải là cộng sản. Tôi thuộc “bên thắng cuộc”, vào Nam với tâm trạng vui mừng khấp khởi và tò mò xem “bên thua cuộc” ra sao, rồi cảm thấy mình chính là “bên thua cuộc” khi chua xót thấy những người anh em họ hàng mình mất mát to lớn như thế nào khi thuộc về “bên thua cuộc”.
Tôi cảm thấy mình ở khắp nơi, Bắc, Nam, cộng sản, không cộng sản, bên thắng cuộc, bên thua cuộc, được hưởng những điều tốt đẹp mà nhà nước ban cho, nhưng cũng bị tước những quyền cơ bản hiến định.
Có hàng triệu người Việt như tôi, cảm nhận thấy mình thuộc cả hai bên của ranh giới hiềm khích và hận thù?
Và, hơn tất cả sự phân biệt “bên này, bên kia” đó, trong khi hàng triệu người bị cuốn vào xung đột “ý thức hệ” - cộng sản hay không cộng sản, thì cái cộng sản từng luôn cuốn hàng triệu người, trong đó có những công dân ưu tú, với lý tưởng  độc lập tự do cao đẹp, không biết từ lúc nào đã trở thành công cụ đắc lực cho những kẻ xấu ngày càng đông đảo lợi dụng, trở thành quyền lực vô biên, đang hối hả củng cố vị thế ngự trị của mình với số đông đang sống trong sợ hãi, dốt nát và đói nghèo.
 
Lời kết, về hòa giải và hòa hợp dân tộc
Có lẽ tôi phải viết hàng trăm trang mới nói hết được những ý nghĩ của mình về nước Việt Nam và người Việt Nam vào giai đoạn lịch sử phức tạp này của dân tộc.
Qua câu chuyện cuộc đời của rất nhiều người mà tôi có dịp được biết đến về cuộc chiến, trước và sau đó, tôi thấy rằng có thể  nhiều triệu trang cần phải được viết về giai đoạn lịch sử này đã chưa được viết, hoặc bởi bị cấm đoán, hoặc bởi người ta đã lãng quên trong lo toan của cuộc sống đời thường...
Với Internet, người ta tiếp nhận được nhiều thông tin hơn, có cơ sở để có nhận thức và phán quyết của riêng mình về lịch sử. Đối với tôi, những nhận thức và phán quyết cá nhân đó có những chuyển biến theo thời gian mà dường như ngày càng gần với thực tại khách quan hơn, làm chính tôi phải ngỡ ngàng.
Ông Võ Văn Kiệt, một lãnh đạo cao cấp của nhà nước thống nhất đã có một phát biểu nổi tiếng  về ngày 30 tháng 4, tuy không được phổ biến rộng rãi: “Ngày có hàng triệu người vui nhưng cũng có hàng triệu người buồn”. Đó luôn là nhận thức của ông, từ 30 tháng 4 năm 1975, hay phải chăng chính ông sau này đã nhận được đủ thông tin hơn để thay đổi nhận thức và phán quyết của mình về lịch sử?
Tôi nghĩ, trên thực tế tâm trạng của những người Việt Nam khắp nơi trên thế giới vào ngày này là phức tạp, là sâu sắc hơn là nỗi buồn hay niềm vui.
Phía những người vui... Nếu chỉ là vui, phải chăng đó là những người không có nhiều mất mát trong cuộc chiến để mà suy ngẫm? Có lẽ còn hơn cả niềm vui, họ còn kiêu hãnh về chiến thắng mà mình đóng góp.
Với niềm tin là mình đóng góp xương máu cho nền độc lập, cho thống nhất đất nước, giải phóng dân tộc... làm sao mà người ta không kiêu hãnh?
Phía những người buồn... Nếu chỉ là buồn, phải chăng đó là những người không có nhiều mất mát trong cuộc chiến để mà suy ngẫm? Có lẽ còn hơn cả nỗi buồn, họ còn có mối hận thù vì bị đối xử tàn tệ, bị cướp đi cơ hội có một cuộc sống bình thường.
Bị đầy đọa, bị mất người thân yêu, người ta khó có thể vượt qua được hận thù?
Ở phía được coi là hận thù, tôi còn thấy sự tiếc nuối về thất bại của một lý tưởng độc lập, tự do khác, bị vùi dập và quên lãng...
Đất nước Việt Nam đã thống nhất 40 năm, nhưng dân tộc vẫn còn chia rẽ trong những con sóng ngầm. Hòa giải và hòa hợp dân tộc dường như còn xa vời, bất chấp tuyên bố của ai về điều ngược lại.
Hòa giải và hòa hợp dân tộc, tiếc thay, chưa bao giờ được đặt ra như một chương trình dài hạn của quốc gia, trong khi nó không thể được phát động từ cộng đồng dân sự trong hoàn cảnh chính trị - xã hội hiện nay của Việt Nam.
Trong khi đó, hòa giải chưa được đưa ra bởi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Các sáng kiến hòa giải từ bên ngoài Việt Nam ở bất kỳ một quốc gia nào, trớ  trêu thay, dường như cũng luôn được coi là hành động thù địch, làm phương hại đến quan hệ của Việt Nam với quốc gia đó.
Ngày 30 tháng 4 đối với tôi ngày càng trở thành một ngày đem đến cảm xúc phức tạp. Cảm xúc về sự yếu thế của một dân tộc tự chia sẽ, tự chấp nhận sống trong lừa dối, tự chấp nhận sống trong vô thức của ngạo mạn hay hận thù, với chính đồng tộc của mình.
Các thế hệ sẽ dần qua đi, để không còn có ai đáng cho ai ngạo nghễ về chiến thắng, không còn có ai đáng cho ai hận thù vì tội ác đã gây ra.
Nước Mỹ đã hòa giải với Việt Nam sau nhiều tội ác điên rồ. Hình ảnh cựu chiến binh Mỹ ôm hôn cựu chiến binh Bắc Việt Nam đã trở thành biểu tượng của sự hòa giải. Họ đang tích cực tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh từ rà phá bom mìn, cứu giúp nạn nhân chiến tranh, xây dựng trường học, bệnh viện... Hai quốc gia Mỹ và Việt Nam đã trở thành những đối tác thân thiết về thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục. 
Nhưng chúng ta còn chưa thấy được hình ảnh cựu chiến binh miền Nam và miền Bắc ôm hôn nhau, dù đã có nhiều cựu chiến binh Nam Việt Nam định cư ở nước ngoài, theo tôi được biết, đã về nước tham gia làm từ thiện, tham gia xây dựng quê hương, trong lặng lẽ. Điều khác biệt của họ so với các cựu chiến binh Mỹ là, họ hành động với lòng yêu quê hương, đồng bào, chứ không phải từ mặc cảm tội lỗi trong chiến tranh.
Tôi ước mong ngày này trở thành “Ngày suy ngẫm” của dân tộc. Suy ngẫm về chiến thắng, về hận thù, về hòa giải, về khoan dung với đồng tộc của mình, vượt lên trên vô thức và định kiến vốn đã đầy ắp trong mỗi con người, vượt lên trên bất đồng chính kiến.
Suy ngẫm để cùng đối mặt với những sự thật phũ phàng, dù ở bất kỳ “bên” nào, để có được nhận thức và phán quyết tường minh về lịch sử cho mình và cho các thế hệ tương lai.
Suy ngẫm để cùng đưa ra được một chương trình nghị sự, từ ý chí của cộng đồng, chính trị và phi chính trị, về hòa giải và hòa hợp của người Việt Nam trên toàn Thế giới, như một dân tộc thống nhất, vĩ đại.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 28-4-15

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

CẦN HỌC LẠI LỊCH SỬ NƯỚC NHÀ

Một lần cách đây vài chục năm, tôi đến tham quan Kinh thành Huế. Khi đọc quyển sách tóm tắt về các triều vua nhà Nguyễn tôi đã phải thật ngạc nhiên nhận ra là nhà Nguyễn thật có công lớn mà lâu nay không hề nghĩ đến. Đó là công lao mở mang bờ cõi . Nhờ đó mà VN mới có hình chữ S kéo dài một dải từ ải Nam quan ( nay đã phải lùi lại ) đến mũi Cà mau như ngày nay. Lâu nay ta chỉ biết các triều nhà Nguyễn là những kẻ đã bán nước ta cho Pháp. Rồi ý nghĩ lại tiếp tục. Kiến thức lịch sử VN mấy ngàn năm trong đầu mình chỉ là những chiến công chống giặc phương Bắc còn việc ông cha mình hàng mấy ngàn năm đã xây dựng đất nước như thế nào, từ khai khẩn đất đai, làm ăn  kinh tế, phát triển văn hóa... thì hầu như không hề để ý tới, mù tịt. Cho đến ngày hôm nay, đất nước thống nhất đã 40 năm, ta đã chẳng biết gì, một cách chính thức, về miền Nam VN ngoài các sự kiện đánh nhau với Mĩ, Ngụy. Vậy nên những bài viết trong dịp kỉ niệm ngày 30/4 này đã bổ sung cho ta biết thêm nhiều điều về lịch sử nước nhà.  

Học gì từ chính sách kinh tế của VNCH?

  • 25 tháng 4 - 2015
 
"Việt Nam ngày nay nên học chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cách nhìn về kinh tế thị trường cũng như cách đào tạo, trọng dụng nhân tài ".
Nhận định trên được chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, một Việt kiều Mỹ nay đang sống ở Việt Nam, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 23/4.
Ông Thành cũng cho rằng "dư âm của nền kinh tế tập trung" đang hạn chế sự phát triển của Việt Nam trong thời điểm hiện tại, cũng như trong tương lai.
BBC: Ông có thể cho biết một số đặc trưng của nền kinh tế miền Nam trước năm 1975?
Ông Bùi Kiến Thành: Trước 1975 thì kinh tế miền Nam, dù có những khó khăn do chiến tranh, nhưng vẫn là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.
Vì trong bối cảnh chiến tranh nên chính sách thời đó là mở rộng tất cả những gì có thể. Nông nghiệp thì gặp khó khăn về chiến tranh, thương mại cũng chỉ trao đổi hàng hóa, chứ việc phát triển công nghiệp thì chưa được bao nhiêu.
Nhưng nó vẫn là nền kinh tế cho phép nhân dân tự do tham gia, để những người có ‎ý chí muốn làm kinh tế được tạo điều kiện tốt.
Trong những năm dưới Đệ nhị Cộng hòa thì có khó khăn do cơ chế quản lý nhà nước vẫn chưa có những kinh nghiệm trong vận hành kinh tế thị trường, quản lý‎ nhà nước vẫn chưa hoàn toàn trong sáng, vẫn có những nhũng nhiễu của các nhóm lợi ích.
Trước 75 thì kinh tế miền Nam sống nhờ viện trợ hoa kỳ. Mỹ cung cấp cho miền Nam một tài khoản lớn, mỗi năm mấy trăm triệu đôla, mỗi năm nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam rồi chi cho chính phủ, chi cho phát triển.
Với nền Đệ nhị Cộng hòa thì chiến tranh mở rộng và chi phí của bộ máy quân sự Mỹ ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế. Nền kinh tế phát triển ảo, phát triển về hạ tầng chứ không phải phát triển doanh nghiêp để tạo ra công nghệ mới.
Nó có định hướng tốt là nền kinh tế thị trường nhưng không vững chắc, không dựa vào cơ sở kinh tế mà chỉ dựa vào chiến tranh là chính.
Cả Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa đều không có điều kiện để phát triển hết tiềm năng của một nền kinh tế thị trường, do chiến tranh và việc chuyển đổi qua nền kinh tế kế hoạch tập trung rất là khắc nghiệt.
Nếu so sánh với các nước khác thì Đại Hàn bắt đầu dưới thời Park Chung Hee mới bắt đầu phát triển tốt và đến 70 mới phát triển xa hơn Việt Nam Cộng Hòa.
Không thể so sánh với những nước như Nhật được. Nhật đến năm 70 đã phát triển thành nền kinh tế tiến bộ rồi.
Singapore thời đó cũng chỉ mới bắt đầu có tiến triển dưới thời L‎ý Quang Diệu và đến 70 thì phát triển xa hơn miền Nam nhiều, vì cả ba nước này không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.

BBC: Xu hướng phát triển của Việt Nam Cộng Hòa sẽ như thế nào nếu được phát triển trong hòa bình, thưa ông?
Ông Bùi Kiến Thành: Nói chung nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa là một nền kinh tế thị trường có nhiều tiềm năng, nếu được phát triển trong hòa bình thì sẽ có nhiều khả năng phát triển tốt hơn là chính sách phát triển tập trung sau 30/4/1975.
Nếu Việt Nam có hòa bình thì những chính sách phát triển kinh tế bắt đầu từ nền Đệ nhất Cộng hòa vẫn được duy trì, như khu công nghiệp Biên Hòa, các trung tâm phát triển công nghiệp. Khi đó chúng ta học dần dần thì bắt đầu tích lũy kinh nghiệm và bắt đầu đi lên.
Tuy nhiên, sau 30/4 thì tất cả những kinh nghiệm đó bị chặn đứng, áp dụng kế hoạch tập trung của miền Bắc vào miền Nam, bao nhiêu doanh nghiệp bị quốc hữu hóa, doanh nhân thì vào trại cải tạo hoặc bỏ xứ ra đi.
Nền kinh tế tan vỡ ra hết và nền kinh tế tập trung không phát triển được, việc ngăn sông cấm chợ khiến nền kinh tế đi vào ngõ cụt.
Đến khi đó nhà nước cộng sản mới áp dụng chinh sách Đổi Mới. Nhưng Đổi Mới không phải là kinh tế thị trường mà là nền kinh tế 'nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường dưới sự quản lý‎ của nhà nước".
Cho đến nay định nghĩa của nền kinh tế Việt Nam sau Đổi Mới vẫn chưa có gì mới hơn là định nghĩa năm 1986, là kinh tế nhiều thành phần có sự quản l‎ý của nhà nước.
Vì vậy nên đến 2015, chúng ta vẫn bị sự chi phối nặng nề của các doanh nghiệp nhà nước, không thoát ra được tư duy kế hoạch tập trung của một số lãnh đạo, và không thoát ra khỏi sự vận hành của kinh tế nhà nước, trì trệ và không có hiệu quả.
Từ năm 1985 đến giờ ta không bắt kịp các nền kinh tế khác vì tư duy không rõ ràng, không ai biết kinh tế xã hội chủ nghĩa là cái gì.
Một mặt thì nói là kinh tế thị trường, một mặt thì nói là có sự quản l‎ý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta đã mất hết 30 năm mà vẫn còn loay hoay trong những việc làm không rõ ràng.



Nền kinh tế thị trường của miền Nam đã bị phá vỡ sau năm 1975
BBC: Liệu chính phủ ngày nay có thể học được gì từ chính sách kinh tế miền nam trước 1975 thưa ông?
Ông Bùi Kiến Thành: Thứ nhất là kinh tế là việc của nhân dân chứ không phải của chính phủ, chính phủ không làm kinh tế. Đó là bài học lớn nhất.
Phải bỏ tập quán chính phủ đi làm kinh tế. Đã có định hướng như thế rồi nhưng chính phủ Việt Nam vẫn chưa ra khỏi vấn đề tư duy kinh tế nhà nước.
Thứ hai là các nhóm lợi ích của thành phần cầm quyền có ảnh hưởng rất lớn về vấn đề lợi ích trong nền kinh tế, khiến nền kinh tế bị khống chế bởi một nhóm lợi ích, khó mà phát triển được.
Kinh tế làm sao phải lan tỏa được để mọi người có thể tham gia, làm sao để tổ chức mà cả hệ thống chính trị, hệ thống hành chính tạo điều kiện cho người dân tham gia bình đẳng vào vấn đề kinh tế.
Ở miền Nam khi đó không có vấn đề là đảng viên thì hay ở trong hệ thống tổ chức nào mới được trọng dụng.
Đến bây giờ chúng ta thấy rằng về vấn đề quản lý nhà nước, toàn thể Việt Nam vẫn ở trong hệ thống Đảng Cộng sản, không phải đảng viên thì không được gì, mà chưa hẳn là 4 triệu đảng viên cộng sản đã là tinh túy nhất của toàn dân Việt Nam, nên nó hạn chế việc đào tạo lãnh đạo quản lý‎ nhà nước.
Chúng ta chưa thực sự mở cửa đào tạo, có hệ thống giáo dục tân tiến.
Đi vào đại học thì học những chuyện đã cũ rích rồi, từ những sách tiếng Anh dịch ra cho học sinh học mà thầy giáo đọc còn chưa hiểu, trong khi ở những nước khác, sinh viên học trên internet các dữ liệu, kiến thức mới.
Hệ thống giáo dục của Việt Nam chưa thể đưa những kinh nghiệm hay kiến thức mới vào nền giáo dục kịp thời, nên chúng ta đào tạo ra các sinh viên không đủ năng lực đi vào thực tế, đi vào xã hội.
Các doanh nghiệp khi thuê từ đại học ra phải đào tạo lại cho phù hợp với doanh nghiệp mình, nên tốn gấp đôi thời gian và tiền.
Bên cạnh đó, Việt Nam bây giờ còn có cái đại nạn là phải đi mua việc. Điều đó tạo ra vấn đề là những cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước không phải do năng lực. Những chuyện đó hạn chế chất lượng quản lý nhà nước của Việt Nam.
Ở miền Nam trước 75 thì là một nền giáo dục rất mở, người sinh viên và các thầy giáo được quyền tiếp cận các nền giáo dục tư tưởng, dù là tư bản hay cộng sản, không hạn chế.
Giáo dục miền Bắc khi đó chỉ có Marxist thôi, không được đọc sách báo, không nghe về tư bản chủ nghĩa, không nghe BBC, radio thì bị khóa không được mở các tần số đấy.
Giờ thì trong trường đại học mở ra nhiều hướng để sinh viên tiếp cận, ví dụ như Internet. Nhưng giáo trình thì không bao nhiêu, vì các thầy cũng có được học đâu, các thầy cũng học trong cơ chế xã hội chủ nghĩa bao năm nay rồi, nên việc đào tạo các thầy trước rồi đào tạo sinh viên sau khiến nền giáo dục bị chậm trễ.
Dư âm của một nền văn hóa tập trung vẫn khiến Việt Nam bị hạn chế cho đến nay.

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

NHẬN DIỆN ĐAO PHỦ BỨC TỬ VIỆT NAM


Nhận diện đao phủ bức tử Việt Nam

                                               Nhà văn Võ Thị Hảo, viết từ Hà Nội
                                                               2015-03-25
“Việc của người biết suy nghĩ là không đứng cùng phía với đao phủ.”-Albert Camus.

TQ tuyên bố chủ quyền ở VN

Hiện vẫn còn một nước tên là Việt Nam nhưng cái tên chưa đủ để minh chứng rằng nước chưa mất. Việt Nam bây giờ cũng như một cây cổ thụ ngàn năm tuổi đang bị lưỡi cưa máy đốn hạ, lá trên cây dù chưa rụng hết nhưng dưới gốc thì thân gỗ đã bị xẻ làm muôn mảnh đem bán để ghép thành cái tràng kỷ kê chỗ ngồi cho nhiều nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Đám người này đã sốt sắng dâng lên đám đầu lĩnh Trung Quốc bữa đại tiệc với món chính là máu thịt của đất nước Việt Nam.
Chi tiết quan trọng nhất khiến người ta nghi ngờ rằng VN đã mất chủ quyền lãnh thổ vào tay TQ đã thể hiện trong một sự kiện chấn động khiến thế giới sửng sốt và bất bình nhưng nhà cầm quyền VN thì im lặng chấp nhận.
Tại cuộc họp báo ngày 8/3/2015, ông Vương Nghị - Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc đã lớn tiếng tuyên bố với thế giới rằng việc TQ xây các đảo đá trên biển Đông là xây trên sân nhà của họ và chỉ trích kịch liệt những ai phản đối hành vi này của TQ. Và cái phần mà TQ khẳng định là „sân nhà“ ấy, lại đang là lãnh hải của VN có lịch sử từ lâu đời và đã được công ước quốc tế đương nhiên thừa nhận.
Tuyên bố trên của TQ gây bàng hoàng và phẫn nộ cho những người công tâm và am hiểu lịch sử vấn đề. Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về biển Đông tại Học viện Quốc phòng Australia khi trả lời phỏng vấn của RFI đã không che giấu sự bất bình: “Tôi vô cùng kinh ngạc khi đọc thấy ý kiến của Ngoại trưởng Trung Quốc đưa ra vài hôm trước ngày kỷ niệm 27 năm cuộc tấn công của Hải quân Trung Quốc vào tàu hậu cần Việt Nam ở khu vực quan Đá Gạc Ma (Johnson South Reef) ngày 14/3/1988. Nhận xét của ông Vương Nghị vừa thô bạo, vừa ngạo mạn.”
Dù liên tục lấn chiếm VN từ biên giới đến biển đảo, nhưng đây là lần đầu tiên TQ dám ngang ngược tuyên bố biển Đông là sân nhà. Việc TQ xây dựng những chuỗi đảo nhân tạo trên lãnh hải VN rõ ràng là hành động xâm lược, là bàn đạp để TQ thôn tính VN.
Trước sự xâm lược trắng trợn đó, trách nhiệm tối thiểu của nhà cầm quyền VN là phải lập tức phản đối mạnh mẽ trước hết trên lĩnh lực ngoại giao, đồng thời vận dụng các lực lượng quân sự, chính trị , sức mạnh quốc tế để buộc TQ trả lại chủ quyền lãnh thổ.
Nhưng sự ngược đời đã xảy ra. Sau tuyên bố của Vương Nghị, đến tận hôm nay VN vẫn không lên tiếng phản đối. Càng lạ lùng hơn là cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao VN dự định tổ chức vào ngày 12/ 3/2015, ba ngày sau tuyên bố của TQ lại bị xóa bỏ.

Lộ trình đao phủ bức tử VN

Trước sự im lặng chấp nhận của VN, TQ đã nuốt trọn phần còn lại của con mồi. Phần đầu đã được tiêu hóa xong từ những năm trước đây, khi những nhà cầm quyền VN từ cấp địa phương tới Trung ương đã hăm hở giao đất rừng dọc biên giới mà hầu hết là những vị trí hiểm yếu về an ninh quốc phòng cho TQ thuê và quản lý tới 50 năm theo phương thức người TQ tha hồ tung tác trong đó.
Thiếu tướng Nguyễn Kim Khoa - chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội cho biết trên báo Đất Việt ngày 18/6/2014 : Qua khảo sát ở một số nơi, đã thấy có 19 dự án được các địa phương cấp phép cho thuê tới khoảng 398.374 ha đất rừng dọc biên giới Việt - Trung, đặc biệt là những vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng. (Trong khi đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ báo là 10 tỉnh).
Mức giá mà VN cho TQ thuê đất rừng biên giới rẻ mạt đến mức không tưởng tượng nổi: nhiều nơi TQ chỉ phải trả 2,75 đ cho mỗi mét vuông đất mỗi năm! (Theo đại biểu QH Trần Việt Hưng(Hòa Bình) – báo Thanh niên đưa tin ngày 12/6/2010)
Nhận định của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước cho rằng thực sự các cấp chính quyền đã bán rừng và dồn đất nước VN vào tình trạng tự sát, khiến VN mất đi vùng lãnh thổ quan trọng nhất về quốc phòng an ninh.
Mặc dù vậy, cho đến nay không một ai phải chịu trách nhiệm về những hành vi có thể coi là bán nước và phản quốc này.
Cùng trên lộ trình các cấp chính quyền VN để ngỏ cửa cho những kẻ xâm lược VN, họ còn tạo điều kiện đặc biệt dễ dàng cho người TQ vào kinh doanh, sản xuất, trốn thuế, thuê đất trồng lúa, rau quả, thuê mặt nước nuôi tôm cá... lập những đặc khu TQ như ở Vũng Áng – Hà Tĩnh và nhiều nơi. Song song với những chính sách về chính trị, ngoại giao và quốc phòng, an ninh, những chính sách về kinh tế thương mại đã giết chết nền sản xuất của VN và biến VN thành thị trường tiêu thụ hàng rởm và hàng độc hại của TQ. Không những nền kinh tế chính trị và văn hóa của VN bị bức tử mà cả VN đang bị biến thành một bệnh viện khổng lồ trong đó chen chúc những người dân đang chết dần mòn vì hóa chất độc hại của TQ.
Trong tình thế ấy, thay vì bảo vệ đất nước và nhân dân, nhà cầm quyền VN đã liên tục dùng mọi lực lượng từ văn hóa tư tưởng, báo chí truyền thông tới công an và côn đồ để ngăn chặn, vu cáo, mạt sát, khủng bố, đánh đập, bỏ tù, bao vây về kinh tế, cắt cả nguồn sống của những ai dám bày tỏ lòng yêu nước, bảo vệ tự do dân chủ và phản đối TQ xâm lược. Đến các cuộc dâng hương tưởng niệm những người đã hy sinh trong những cuộc chiến bảo vệ đất nước chống TQ tàn sát cũng bị nhà cầm quyền cho các lực lượng công an, dân phòng, dư luận viên và côn đồ ngăn cản.
Với những hành động có hệ thống, nhất quán trong nhiều năm như vậy, dư luận có quyền nhận định rằng nhà cầm quyền VN đã có quyền lợi chung với đám đao phủ TQ đang bức tử đất nước VN.
Để dẹp tan dư luận, Bộ trưởng quốc phòng VN – lại có những hành động bất chấp sự thật, trách nhiệm và và lương tâm khi khẳng định rằng “quan hệ Việt Trung vẫn phát triển tốt đẹp” và coi việc xâm lược của TQ chỉ là “mâu thuẫn gia đình”. Hơn thế nữa, Ngày 31/12/2014, vị này còn lớn tiếng răn đe và kết tội rằng người VN ghét TQ là một việc nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đất nước cũng như quan hệ giữa hai quốc gia. (theo tinphapluat.com)
Dù không muốn thừa nhận sự thật đau lòng, người VN cũng không thể không nhận thấy dù cái tên VN còn đó, nhưng hồn nước thì đã bị nhiều nhà cầm quyền cộng sản làm tay sai cho TQ giẫm đạp mỗi ngày. Tung hoành trên mảnh đất này là dòng máu phản trắc đớn hèn đã được tiêm vào động mạch của vô số nhân vật trong các bộ máy quyền lực. Đó thực sự là đám tay sai của TQ, núp dưới chiêu bài Đảng cộng sản VN, lấy chủ nghĩa Mác Lê nin và ý thức hệ xã hội chủ nghĩa mà nhân loại đã lên án là tội ác chống lại loài người làm bức màn sắt che cho những tham vọng, quyền lợi nhóm, để chĩa họng súng độc tài vào người dân, biến VN thành một “nhà tù” khổng lồ đàn áp bất cứ ai dám phê phán, ngăn cản con đường bán nước của chúng.
Người VN trong tình thế đó, là những con gà bị trói chặt, dao đã kề cổ. Ai cam tâm im lặng, chịu đi nhặt cơm thừa canh cặn, tung hô khen ngợi đám tay sai bán nước, tiếp tay cho bọn xâm lược, hoặc tiếp tục vắt kiệt máu mỡ mình nuôi bộ máy cầm quyền phè phỡn trên xương máu nhân dân thì sẽ được tồn tại.
Nhưng thế có phải là cuộc sống con người?
Người VN đã tê dại. Đã lạc mất linh hồn, Đến mức số đông đã mặc kệ mọi sự, cam chịu dao kề cổ và trong khi đang kê chiếc cổ gầy dưới lưỡi dao đao phủ , người VN cũng tương tự nhà cầm quyền của họ, chỉ dám mơ tới một con dao đao phủ cùn hơn để cứa cổ mình lâu chết hơn, chứ không dám mơ tới việc phải làm gì để thoát khỏi lưỡi dao ấy. Không ít người do không am hiểu tình hình nên đã trở thành độc ác, đứng về phía đao phủ bức tử VN, a dua mạt sát những dân oan hoặc những đồng bào đã không quản nguy hiểm đấu tranh cho quyền lợi của đất nước và cho cả chính họ.

Mất nước là bởi nhà cầm quyền VN

000_Hkg9812263.jpg
Vùng đảo Gạc Ma nhìn từ trên cao, ảnh minh họa chụp hôm 15/5/2014.
TQ thực sự rất ngang ngược, tham lam và đã dùng nhiều thủ đoạn đối với loài người trên thế giới này. Không ngẫu nhiên khi có nhiều tài liệu khoa học thống kê, phân tích về những thủ đoạn thâm hiểm, tàn bạo của nhà cầm quyền cộng sản TQ và một trong những cuốn sách rất nổi tiếng đã được xuất bản mang tên “Chết bởi tay Trung Quốc” của hai giáo sư kinh tế học Perto Navarro và Greg Autr đã cảnh báo loài người về những tham vọng và hiểm họa mà TQ mang tới để các nước đối phó.
VN “đã chết bởi tay TQ”! Nhưng khốn khổ khốn nạn ở đây là cái chết do VN tự chuốc lấy. Chết chỉ vì nhà cầm quyền cộng sản đã bằng mọi giá, thà hy sinh lãnh thổ, danh dự, đất nước, nhân dân chứ không chịu mất Đảng, mất thể chế cộng sản.
Họ yêu Đảng, yêu Mác Lê nin, yêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đến thế kia ư?
Hoàn toàn không. Ở trong bộ máy, họ biết quá nhiều hành vi bỉ ổi độc ác của nhau và của thứ chủ nghĩa này. Họ gắn bó chẳng qua thể chế ấy, chủ nghĩa ấy là một cỗ xe bọc thép mang vũ khí hạng nặng bảo vệ hữu hiệu nhất cho băng cướp tham nhũng tha hồ lừa bịp và cướp bóc người dân. Thế giới đã chứng minh cỗ xe cộng sản càng lăn đi càng chất chồng tội ác. Sự sợ hãi bị mất tất cả đã khiến nhà cầm quyền gắn với thể chế cộng sản như mạng sống. Họ đã lựa chọn con đường hy sinh đất nước và nhân dân để giữ chế độ độc tài nhằm bảo vệ cho giai cấp thống trị tha hồ cướp bóc.
Đó cũng là điều mà TQ đã rất khôn ngoan tận dụng để thao túng đám cướp bóc này. Đám này còn rất sốt sắng thực hiện mưu đồ nhập VN vào TQ trong năm 2020 theo như cam kết của Hội nghị Thành Đô 1990. Tham vọng vĩ cuồng mang hơi hướng Mao Trạch Đông của Tập Cận Bình cộng với và sự nôn nóng muốn rảnh tay nên giao đất sớm cho TQ của đám bán nước VN, nay đã về đích trước 5 năm so với kế hoạch?!
Albert Camus nói: “Việc của người biết suy nghĩ là không đứng cùng phía với đao phủ”. Khi nhà cầm quyền hoặc người VN đứng về phía đao phủ , thì chính họ đang hái quả trên ngọn cây nhưng lại dùng lưỡi cưa xẻ nát thân cây đã dung dưỡng họ.
Xét những động thái khác thường qua tuyên bố của TQ và sự im lặng chấp nhận của VN, dư luận không thể không nhận ra VN đã nằm gọn trong cái mõm tham lam của TQ. Cánh tay của nước Mỹ dù mạnh nhưng đã bị khước từ bởi chính nhà cầm quyền VN không những chỉ đứng về phía đao phủ mà còn là tay trong cho đao phủ. Nước Mỹ và khối các nước văn minh hiện giờ chỉ còn chứng kiến những cú đong đưa cầu lợi của VN đang được điều khiển bởi đầu não TQ mà thôi.
Nhưng chính TQ cũng đang phải đối diện với nguy cơ sụp đổ trong tương lai gần bởi chính những khối ung thư nội bộ của họ. Sự phát triển nôn nóng bất chấp danh dự và thủ đoạn của nền kinh tế TQ đương nhiên sẽ mau chóng phá vỡ cái vỏ chật chội lạc hậu của thể chế chính trị phi tự nhiên theo ý thức hệ cộng sản đã bị loài người tẩy chay. Việc cộng dồn những tội ác chống lại loài người mà nhiều thế hệ nhà cầm quyền TQ đã làm với người dân của họ và thế giới cũng sẽ đến ngày “tức nước vỡ bờ”, chưa kể những chấn động mạnh mẽ của cuộc tranh giành quyền lực phe nhóm đang diễn ra dưới vỏ bọc “đả hổ diệt ruồi” tại TQ.
Sự sụp đổ ấy đương nhiên sẽ kéo theo sự tan vỡ bi thảm trong một ngày không xa của thể chế cộng sản VN đã tự nguyện nộp mình vào tay TQ thay vì thức thời đón nhận những cơ hội của Cách mạng Nhung VN, tự cải cách thể chế, đồng hành với quyền lợi của toàn dân tộc.
Và dẫu nước VN có mất về tay TQ, những người gắng gỏi vì đất nước và người dân VN không tuyệt vọng. Cuộc đấu tranh đòi thoát khỏi thể chế cộng sản để cứu nước, đem lai toàn vẹn lãnh thổ, dân chủ, tự do và nhân quyền cho người VN dù khó khăn nhưng là một cuộc chạy tiếp sức của các thế hệ. Nhà cầm quyền không bao giờ có thể tiêu diệt hết được những người yêu nước yêu công lý và yêu tự do.
Nhà văn Võ Thị Hảo, viết từ Hà Nội