Thứ Năm, 17 tháng 8, 2017

CHUYÊNJ CHƯA ĐƯỢC NGHE KỂ VỀ CỤ HỒ (

Hồ Chí Minh dưới góc nhìn của một cựu phiên dịch thân cận – Phần II

Lê Anh Hùng - 16.8.2017 
Ngày 15/8/2017, VOA đã đăng bài “Hồ Chí Minh dưới góc nhìn của một cựu phiên dịch thân cận”, ghi lại cuộc trò chuyện giữa tác giả với Đại tá Đoàn Sự, người từng làm phiên dịch cho ông Hồ Chí Minh. Đây là phần tiếp theo của câu chuyện, đặc biệt là nhằm trả lời câu hỏi mà nhiều người quan tâm: “Hồ Chí Minh có phải là Hồ Tập Chương không?”[i]
“[…] Thứ hai, Cụ sống rất là keo kiệt. Nói thật là thế. Cho nên gần Cụ thì vinh dự nhưng mà sợ lắm. Ăn uống, sinh hoạt rất là khổ. Không có được cái gì tự do cả. Bác bảo, ‘Cái hoàn cảnh tôi ngày xưa… thực ra con quan thật đấy, nhưng mà nghèo lắm, đói lắm… Các chú biết không, Nghệ Tĩnh có câu “dân cá gỗ mà”...”
“Bác hỏi thì mình trao đổi, mình nói nhưng mình không dám nói hết. Thực ra, tôi thấy Bác có mấy chỗ này. Thứ nhất, Bác rất máy móc trong việc thiểu số phục tùng đa số. Cho nên trong Cải cách Ruộng đất, trong Nghị quyết 9, trong tất cả các thứ, Bác không đồng ý, nhưng mà khi mình là thiểu số thì Bác vẫn thuận theo. Nhưng mà sau này thấy sai rồi, đáng lẽ Bác phải can đảm, dùng cái uy lực của mình để chặn cái chuyện đó lại thì lúc ấy Bác lại không làm. Bác coi như một cuộc thí điểm, mà thí điểm tai hại không biết chừng nào. Thứ hai, thực ra mà nói, cả cuộc đời mình, ông cụ đi từ lòng yêu nước thôi, sang đến bên kia Cụ mới giác ngộ giai cấp, Cụ vào Đảng Xã hội, sau đó Cụ mới vào cái đảng của Lenin, trong đó có vấn đề đấu tranh cho thuộc địa mà… Trong vụ khủng bố Bukharin - Zinoviev [tức Vụ án Moskva], Cụ đã thấy rằng ở Nga có vấn đề. Cụ đã có suy nghĩ rồi. Cho nên tư tưởng của Cụ, tuy rằng theo Marx-Lenin nhưng ngả dần về phía Tôn Dật Tiên, về chủ nghĩa tam dân…”
“Vừa rồi tôi sang địa chỉ của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tôi giở những tài liệu giảng dạy ra. Trong đó có 3 người dạy. Người thứ nhất là ông Lưu Thiếu Kỳ, lúc bấy giờ là Chủ tịch Công hội Trung Quốc. Ông đến giảng về phong trào công đoàn. Người thứ hai là ông Bành Bái, lãnh tụ phong trào nông dân. Ông giảng về phong trào nông dân của Trung Quốc. Còn ông cụ, tất cả bài giảng của ông cụ là con đường cách mạng, trong đó phảng phất chủ nghĩa tam dân. Tuy rằng cũng có lồng chủ nghĩa Marx-Lenin đấy, nhưng mà nó có hơi hướng của chủ nghĩa tam dân. Bây giờ còn lại bút tích như thế. Thế cho nên mình mới thấy là ông cụ cũng có cái khác, củng cố nhận thức của tôi, là Cụ theo chủ nghĩa Marx-Lenin, Cụ dùng Marx-Lenin làm phương tiện, nhưng còn mục đích thì Cụ không nói.”
“Cho nên vừa rồi ông Trương Minh Tuấn có viết cái bài về việc Bác Hồ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [bài “Kinh tế thị trường định hướng XHCN tạo ra phát triển ngoạn mục cho đất nước” của Bộ trưởng TT-TT] thì tôi bảo là không phải đâu. Câu ấy là người ta ghép cho Cụ Hồ thôi, chứ trong Di chúc, Cụ có nói gì về chuyện ấy đâu. Cụ có nói gì đến chuyện xây dựng CNXH đâu. Chính Cụ lại do dự chuyện ấy. Cho nên vừa rồi ông [GS] Chu Hảo và cả ông [GS Nguyễn Khắc] Mai nữa đã nói rằng, đến giai đoạn giải phóng dân tộc là Cụ bắt đầu bế tắc…”
“Có những trường hợp Cụ biết, như vụ Xét lại này này. Cụ biết chứ sao không biết, là vì xử trí ông Vũ Đình Huỳnh, thư ký của Cụ; xử trí ông Võ Nguyên Giáp là tay chân của Cụ, v.v. Cụ biết cả. Nhưng lúc bấy giờ Cụ bị sức ép. Sức ép thứ nhất là do đã phải dựa vào Trung Quốc, cho nên nó chỉ đạo, nó ép Cụ. Sức ép thứ hai là bộ phận tả khuynh của ta đã tranh thủ điều đó để nắm lấy quyền lực. Cụ thấy như thế cho nên trong những trường hợp đó, với vị trí của Cụ, Cụ cũng gần như là để thí điểm xem nó thế nào. Trong vụ Nhân văn Giai phẩm cũng thế. Cụ để cho ông Tố Hữu và ông Nguyễn Chí Thanh làm, chứ Cụ có dính gì đâu. Nhưng mà cái dở nhất của Cụ là thế này, sau khi biết làm có kết quả sai rồi thì phải mạnh dạn nhận ra mà trấn chỉnh cái đó lại thì Cụ lại không dám làm. Và Cụ bị ảnh hưởng [bởi] cái đó rất mạnh…”
“Khi ra Nghị quyết 9, chuyển sang đấu tranh vũ trang chính thức ở Miền Nam thì Cụ không tán thành. Và lúc bấy giờ Trung Quốc khuyên thế này: Đánh nhau thì đánh, có lực lượng thì chuẩn bị, cứ dần dần mà làm, nhưng mà không nên làm quy mô lớn. Vì nếu làm quy mô lớn lên thì Mỹ sẽ nhảy vào đấy. Kinh nghiệm Triều Tiên mà. Cho nên Cụ cho rằng vẫn tổ chức đấu tranh ở Miền Nam, vẫn thế này thế khác, nhưng mà gây dựng dần dần về ý thức, như vết dầu loang thôi, chứ chưa phải đánh nhau lớn được. Nhưng mà các cụ nhà ta lại hăng hái quá, cứ kiên quyết phải đánh, rồi thì là lập Đường 559... Cụ không tán thành.”
“Hôm bỏ phiếu Cụ bỏ ra ngoài, không tham gia bỏ phiếu. Ông Võ Nguyên Giáp, Ung Văn Khiêm, v.v. không tán thành, cho nên bị kỷ luật cả nút đấy. Nhưng mà đa số, ông Duẩn, ông Thọ, ông Trường Chinh… thì lại theo quan điểm này rồi. Thế thì khi xẩy ra, Cụ rất đau lòng. Lúc bấy giờ ông [Võ Nguyên] Giáp giao cho ông [Lê Trọng] Nghĩa và ông Đỗ Đức Kiên [Cục trưởng Cục Tác chiến] chuẩn bị một cuộc chiến đấu có quy mô lớn, chứ chưa phải cuộc tổng phản công – một cuộc chiến đấu về vấn đề chiến lược, đánh mạnh để tạo áp lực, chứ chưa phải tổng phản công, vì điều kiện chưa đầy đủ. Thế nhưng các cụ nhà ta lại nghe các báo cáo ở Miền Nam ra – bây giờ khắp nơi tốt lắm rồi, bây giờ nổi lên một cái là nó lật nhào ngay… Nhân thể đó đả luôn ông Giáp, bắt một loạt tay chân của ông Giáp, từ Cục trưởng Tác chiến, Chánh Văn phòng, Cục trưởng Tình báo… kể cả ông Nguyễn Văn Vịnh, Trung tướng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất. Và cô lập Cụ, không cho Cụ tham gia gì cả, cứ lấy lý do là Cụ ốm đau mà, rồi tống Cụ đi.”
“Chính sai lầm đó mà sau này một bà nhà văn Pháp đã viết một cuốn sách mà ta có dịch ra nhưng cắt phần đó đi. Bà nói, chính sai lầm Mậu Thân đã dẫn đến cái chết của ông Hồ Chí Minh. Chứ với điều kiện ấy, ông Hồ Chí Minh [lẽ ra] chưa chết đâu. Nhưng vì ông bị thất bại quá nhiều, trong việc thí điểm, nào là vụ Nhân văn, v.v. rồi dồn đến cái cuối cùng là không thực hiện được ý đồ, mà bị các ông kia lấn át, cho nên ông suy nghĩ, suy sụp và dẫn đến cái chết của ông.”
“Ngay từ hôm chuẩn bị Tết Mậu Thân, ông cụ đi máy bay từ Bắc Kinh về Hà Nội, xuống đến sân bay thì sân bay xẩy ra sự cố [ông Vũ Kỳ từng kể về sự cố bí hiểm có thể dẫn đến tai nạn này – đèn chỉ huy trên sân bay bị chệch 15 độ – trong bài “Bác Hồ với Tết Mậu Thân năm ấy” trên Văn Nghệ số Tết Mậu Dần 1998]. Lúc đó ra đón chỉ có ông Duẩn, ông Đồng, ông Thọ thôi…”
“Đến Tết, theo quyết định của Bộ Chính trị, Cụ lại đi [Trung Quốc] nghỉ. Cụ đi nghỉ mà có mang gì đâu, mỗi một ông Vũ Kỳ thôi. Hệ thống điện đài, hệ thống thông báo cho Cụ đều bị cắt hết. Cho nên Cụ có biết gì đâu. Vì vậy Cụ rất khổ tâm trong chuyện này. Cho nên ở trong Cụ Hồ nếu nhìn cho kỹ thì nó có cái bi kịch, bi kịch cuộc đời, không đơn giản đâu. Nhưng bây giờ tôi rất phản đối có những người với ý đồ xấu [với Cụ], hết chuyện này chuyện nọ…”
“Cậu đã có cuốn ‘Hồ Chí Minh sinh bình khảo’ chưa? Tôi sẽ cho cậu một cuốn… Là vì thế này, khi tôi sang  Quảng Châu [thăm trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội], tôi vào cái buồng mật thì [ở đó] có cả cuốn này. Người ta [những người phụ trách di tích] hỏi tôi, ‘Cụ thấy cuốn này thế nào?’ Tôi hỏi lại, ‘Các vị thấy thế nào?’ Họ bảo, ‘Làm gì có cái chuyện này. Đây là họ phịa ra thôi, nhưng mà chúng tôi lưu lại đây để tham khảo.’”
“Trên gác hai di tích trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội có một buồng rất to, ảnh rất nhiều. Lúc mình đến, đầu tiên họ không cho vào. Mình mới trình bày thì họ hẹn: ‘10h ngày mai mời Cụ đến’. 10h hôm sau mình đi ô tô đến thì mình thấy họ đã sắp xếp lại. Những ảnh nào có những người thân thiết với Cụ Hồ nhà mình thì họ để, nào là Mao, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ… còn những người nào mà mình không khoái (như Đặng Tiểu Bình) thì họ cất đi. Nhưng họ lại để nhiều hình ảnh của ông Hoàng Văn Hoan, khi sang Trung Quốc thế nào. Khi xem thì tôi chỉ xem qua, vì tôi biết rồi. Bà phụ trách (ở đó chỉ 2-3 người thôi) nói: ‘Ở đây còn một buồng mật, chúng tôi chỉ mở cho một số cán bộ nghiên cứu, cần biết thì xem thôi. Ông có muốn xem không?’ ‘Ồ, thế thì hay quá!’ ‘Nhưng chỉ ông xem thôi nhé. Những người đi với ông không vào được đâu nhé.’ Thế là họ mở, buồng nhỏ thôi. Trong đó có cả ‘Hồ Chí Minh sinh bình khảo’, có cả những tài liệu của Hoàng Văn Hoan và những tài liệu khác… Mình xem qua một lượt xong thì họ hỏi mình, mình bảo: ‘Tôi thì tôi nói thật tôi tuy không lâu nhưng cũng đã tiếp xúc với Cụ Hồ. Và ngay từ thời kỳ đó tôi thấy là không thể đóng giả Cụ Hồ được. Đóng giả Cụ Hồ thế nào được. Sau này [gặp] bà Tống Khánh Linh, bà… v.v. rồi về phụ trách lớp học cán bộ cao cấp của ta ở trường đảng thì những Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong… đều biết Cụ Hồ chứ sao không biết. Chuyện đó không giả được, mà chỉ là phịa thôi…”
“Hiện nay tôi có 2-3 bản [Hồ Chí Minh sinh bình khảo] gì đấy. Nếu cậu thích thì lấy về tham khảo thôi. Chứ còn tất cả tài liệu đó, nó viết nó phịa lắm, mà nó có những cái vô lý lắm. Vừa rồi ông Hà Tuấn Trung [nguyên Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, TBT Tạp chí Kiểm tra] đã vạch ra cái sai trái của chuyện này rồi. Nhưng ông mới chỉ vạch sơ sơ thôi...”
“Đứng về chữ nghĩa mà nói, Cụ Hồ chỉ có 4 thứ tiếng giỏi thôi… Còn những thứ tiếng khác nói thế thôi chứ không giỏi đâu… Cụ giỏi Tiếng Pháp nhất. Sau rồi đến Tiếng Trung… là vì ở nhà Cụ đã học tam thư ngũ kinh Tiếng Hán rồi. Sau này sang Nga, Cụ lại học ba khoá Tiếng Nga… nên Tiếng Nga của Cụ rất khá… Từ Tiếng Pháp cụ lần ra Tiếng Anh, nhưng Tiếng Anh của Cụ thì vừa phải thôi…”
“Khi nó viết cái cuốn ấy [‘Hồ Chí Minh sinh bình khảo’] là nó có ý đồ xấu rồi. Cho nên nó lợi dụng tất cả các khía cạnh. Ngay trong cuốn ấy cũng có những chi tiết mâu thuẫn nhau cơ mà…”
Tác giả [Lê Anh Hùng] nói với Đại tá Đoàn Sự (về cuốn “Hồ Chí Minh sinh bình khảo”): “Đây là âm mưu của cả Trung Quốc lẫn ban lãnh đạo Việt Nam. Trung Quốc thì rõ ràng rồi. Lãnh đạo Việt Nam thì muốn trên không gian mạng, công chúng cứ cãi nhau về một chuyện vớ vẩn, vô bổ, một chuyện không có thật, làm mất thời gian và gây chia rẽ. Riêng chuyện này đã gây chia rẽ rồi. Đó là thứ nhất. Thứ hai, họ có ý đồ là muốn dân chúng hiểu rằng ‘Ừ, bây giờ Việt Nam đang lệ thuộc Trung Quốc đấy, nhưng chúng tôi đang phải giải quyết hậu quả của cái ông Hồ Tập Chương kia để lại.’ Lý do thứ ba là họ muốn tạo điều kiện, dọn đường về dư luận cho Hoàng Trung Hải lên nữa.”
*Xem toàn bộ cuộc trò chuyện giữa Đại tá Đoàn Sự và nhà báo Lê Anh Hùng trên Youtube tại địa chỉ: https://youtu.be/2B4j2xGoAss.
________

Thứ Tư, 16 tháng 8, 2017

CHUYỆN CHƯA ĐƯỢC NGHE KỂ VỀ CỤ HỒ



Hồ Chí Minh dưới góc nhìn của một cựu phiên dịch thân cận


Lê Anh Hùng , 15.8.2017
Hồ Chí Minh là một nhân vật gây rất nhiều tranh cãi không chỉ ở Việt Nam, mà cả trên thế giới. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày người khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà giã từ trần thế, song hình ảnh của ông vẫn phủ bóng lên gần như mọi sinh hoạt chính trị quan trọng trên dải đất hình chữ S, đồng thời in đậm trong tâm trí hàng triệu người dân Việt. Chừng đó đủ cho thấy việc mô tả chân dung nhân vật lịch sử này nhạy cảm và dễ đụng chạm đến thế nào.

Tuy nhiên, khi thời gian càng lùi xa thì người ta càng có cơ hội để hình dung ra bức tranh nhân cách đầy đủ của ông từ những góc nhìn đa chiều. Dưới đây là hình ảnh cố Chủ tịch Việt Nam Hồ Chí Minh dưới con mắt một người từng là phiên dịch thân cận, qua cuộc trao đổi của tác giả với ông vào ngày 31/7 vừa qua.[i]
Đại tá Đoàn Sự nguyên là phiên dịch Tiếng Trung trong đại bản doanh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Điện Biên Phủ. Năm 1955, khi đang dạy Tiếng Trung cho Thiếu tướng Trần Quý Hai, Phó Tổng tham mưu trưởng, ông được điều sang Trung Quốc để làm phiên dịch cho một nhóm cán bộ quân đội cao cấp đang học tại một trường quân sự ở Nam Kinh, do Thượng tướng Tống Nhiệm Cùng (cựu Phó Tổng Tư lệnh Chí nguyện quân tại Triều Tiên, về sau là Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương) làm hiệu trưởng. Khoá học gồm chừng 20 người, với những tên tuổi như Vương Thừa Vũ, Phùng Thế Tài, Hoàng Minh Thảo…


Vài tháng sau, Đại sứ Hoàng Văn Hoan đến thăm Hiệu trưởng Tống Nhiệm Cùng thì gặp người em trai của Đại tá Lê Trọng Nghĩa (tên thật là Đoàn Xuân Tín, Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục Quân báo, trợ tá thân cận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Viên Đại sứ liền điều ông về Bắc Kinh tăng cường cho phòng quân sự của ĐSQ (lúc đó mới chỉ có 2 người và còn thiếu kinh nghiệm). Ông được giao nhiệm vụ làm bí thư thứ ba và trợ lý cho tuỳ viên quân sự ĐSQ, và ở đấy cho đến đầu năm 1960 mới về nước.

Lúc bấy giờ cả ĐSQ Việt Nam tại Bắc Kinh chỉ có 4 người thành thạo Tiếng Việt và Tiếng Trung (ông về ĐSQ một thời gian thì Đại sứ Hoàng Văn Hoan về nước, ông Nguyễn Khang sang thay): Phó Đại sứ Phạm Bình; một người Trung Quốc; ông Đặng Nghiêm Hoành, người về sau trở thành Đại sứ tại Trung Quốc từ 1989-1997; và ông Đoàn Sự. Ông Phạm Bình là Phó Đại sứ nên làm phiên dịch không tiện; ông người Trung Quốc cũng vậy; ông Đặng Nghiêm Hoành thì chưa phải đảng viên. Vì thế, ĐSQ quy định là những việc gì liên quan đến đảng (nhất là những chuyện cơ mật) thì ông Đoàn Sự được giao nhiệm vụ làm phiên dịch. Vậy nên mỗi khi ông HCM sang Trung Quốc thì ông Đoàn Sự lại đi theo.

“Đi theo nhưng thực ra mình có làm cái gì đâu. Ông Cụ nói thẳng chứ có cần gì… Ông Cụ cứ thoăn thoắt sang luôn…”

Nhiệm vụ chủ yếu của ông Đoàn Sự vì thế là để theo dõi xem các vị lãnh đạo trao đổi với nhau những gì, có gì quên không ghi lại hay không; và để nhắc nhở lãnh tụ trong trường hợp ông đang nói chuyện với nhiều người mà với vị thế nguyên thủ quốc gia, ông không nên nói Tiếng Trung.

Bấy giờ Liên Xô tặng cho Việt Nam 1 chiếc máy bay IL-18 (họ còn tặng cho Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai mỗi người 1 chiếc). Do Việt Nam chưa có người lái cũng như chỗ chứa máy bay nên chiếc IL-18 này được gửi lại Bắc Kinh. Khi nào ông Hồ cần sang Trung Quốc thì viên phi công người Trung Quốc sẽ bay từ Bắc Kinh sang Hà Nội để đón ông. Ông Đoàn Sự vì thế cũng thường xuyên đi đi về về giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

“[…] Lần này… khoảng tháng Sáu, tháng Bảy gì đấy, Bác đi Liên Xô dự hội nghị 61 đảng về [Bắc Kinh]. Bác vào thăm ông Mao Trạch Đông. Ông ấy bảo: ‘Này, tôi trông anh sắc thái không được khoẻ. Ở lại đây nghỉ một thời gian. Anh về bây giờ công việc bận rồi ốm đấy.’ Cụ Hồ thì rất nể. Người khác mà nói [thế] là không được với Cụ đâu. Cụ nói thế này: ‘Vâng. Tôi xin chấp hành chỉ thị của Chủ tịch.’ Thế là ông ở lại…”

“Sống với ông Cụ thì thấy vinh dự, nhưng mà rất khó sống… vì ông Cụ khó tính lắm, chứ không phải dễ đâu. Cụ chỉ dễ tính với mấy bà phụ nữ thôi… muốn cái gì cho cái đó, rất là thân thiết…   Còn mấy ông con trai, nhất là mấy ông có tuổi đến, là Cụ mắng cho sa sả đấy…”

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Tư tưởng HCM là đa nguyên đa đảng. Lúc đầu, năm 1945, Cụ cho thành lập Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội. Ngoài ra còn có Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội. Năm đảng cơ mà…”

“Cụ bảo, lúc nào trong con người ta cũng có cái nhân và cái nghĩa, có cái thiện và cái ác. Có người cái thiện nhiều, cái ác ít. Nhưng người nào cũng có cả. Cho nên phải làm thế nào để giảm bớt cái ác, phát huy cái thiện của người ta. Đừng quan niệm rằng đã là kẻ thù là xấu…”

“Thực ra ban đầu Cụ về, Cụ rất muốn đi theo con đường quan hệ với Mỹ đấy… Tôi còn có tài liệu về việc Cụ gửi cành đào cho ông Ngô Đình Diệm. Chính Cụ rất muốn lợi dụng chuyện đó… Xẩy ra cuộc chiến tranh Việt - Pháp là Cụ đã hết sức nhân nhượng rồi, nhưng vì rằng tình thế lúc đó, cộng với các nước cộng sản đã muốn rằng đây là một chiến trường để thử thách. Do đó buộc ta phải nhảy vào chiến tranh. Trong chiến tranh, về sau này, khi trận Điện Biên Phủ xong rồi… chuyển sang thời kỳ đánh Mỹ. Quan điểm của Cụ về chuyện đó là khác. Cụ rất muốn để cuộc chiến tranh ấy cố gắng giữ ở mức độ nào đó để Mỹ không vào được. Nhưng mà các ông nhà ta cứ làm…”

“Khi thành lập nước, Cụ Hồ cho giải tán trường luật. Điều đó là không được, vì lúc đó Cụ quan niệm trường luật là theo luật pháp của đế quốc, cho nên Cụ giải tán. Chính ra là phải bảo vệ trường luật để sau này xây dựng hệ thống pháp luật.”

Ông Đoàn Sự vừa sang Quảng Châu từ ngày 30/5 - 9/6, thăm di tích trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Ông tìm ông Hoàng Tranh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Quảng Tây, người từng viết một cuốn sách về bà Tăng Tuyết Minh, nhưng không gặp. Năm 1955, ông từng đến thăm bà Tăng Tuyết Minh. Lần này ông đến thì bà đã mất (từ năm 1991). Người ta nói là phần mộ của bà không có, vì khi mất, bà yêu cầu thiêu xác và thả tro xuống dòng sông Hồng.

“Cụ Hồ có bao nhiêu vợ thì tôi không lạ gì, nhưng trong số những người quan hệ với Cụ thì chỉ có bà Tăng Tuyết Minh là có làm lễ thành hôn rõ ràng…”

Khoảng năm 1955-1956, Hồ Chí Minh gặp Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Đông Đào Chú. Trong cuộc gặp đó, Đào Chú muốn đưa bà Tăng Tuyết Minh về với Hồ Chí Minh, nhưng ông Hồ từ chối, nói rằng với vị trí của mình lúc này mà có vợ là người nước ngoài thì sẽ mang tiếng. Ý kiến của Bộ Chính trị là không nên, mà chỉ yêu cầu Trung Quốc giúp đỡ cho bà tồn tại thôi. Bà Tăng Tuyết Minh không lấy ai cả. Khi về hưu bà được hưởng trợ cấp đặc biệt. Năm 1955, ông Đoàn Sự đã cùng Đại sứ Hoàng Văn Hoan bí mật đến thăm bà. Lúc bấy giờ ông Hồ Chí Minh giao cho ĐSQ hàng năm đến thăm và tặng quà cho bà. Ông Hoàng Văn Hoan dặn ông là phải giữ bí mật về chuyến đi, không được nói cho ai biết. (Ông Hồ Chí Minh không gặp lại bà Tăng Tuyết Minh lần nào nữa.)

“… Tôi còn tìm hiểu và biết là Cụ Hồ còn nhiều đám lắm… Nguyễn Thị Minh Khai, kể cả với bà Tống Khánh Linh… Năm 1924 [?] cụ từng sang Vienna, cụ yêu cả bà Tống Khánh Linh đấy. Khi tôi đưa Cụ về Thượng Hải để thăm bà Tống Khánh Linh thì đi chiếc xe mui trần. Lúc bấy giờ bà Tống Khánh Linh là Phó Chủ tịch nước… Hôm đó tháng Sáu, tháng Bảy gì đó… Cụ Hồ ngồi bên cạnh bà Tống Khánh Linh… Giời nắng, ông cụ lấy cái mũ chụp lên đầu bà ấy… Khi về đến chỗ ở của bà Tống Khánh Linh, Cụ Hồ gọi Tống Khánh Linh là “Tống muội”… Bọn tôi mới thầm thì: “Gớm, sao mà đẹp đôi thế!”… Bác Hồ không kể [chuyện tình với bà Khánh Linh], nhưng qua những chuyện đó, rồi qua [việc] ông Vũ Kỳ kể lại những mối tình của Bác… Ông ấy [Vũ Kỳ] kể cả bà Tống Khánh Linh, ông ấy kể cả vợ của ông Hồ Tùng Mậu nữa cơ… vân vân… nhiều lắm… Tại vì thế này này, thời kỳ hoạt động cách mạng, các ông ấy cứ ghép nhau… Cũng như là bà Nguyễn Thị Minh Khai, có dạo sống với Cụ Hồ đấy chứ, mà đăng ký đi học là vợ chồng đấy chứ…”

“Thế nhưng những chuyện đó là bình thường thôi… ta bây giờ cứ xoay vào đó, rồi thì là khoét sâu nó… thực ra chẳng ra gì cả. Khi tôi ở Hàng Châu với Cụ, có hôm thứ Bảy rỗi rãi, tôi mới bảo bà Tống Minh Phương là hỏi xem người yêu của Cụ Hồ có những ai và ở đâu, vì anh Vũ Kỳ cứ bảo rằng ông ấy [HCM] có quyển sổ tay ghi tháng nào thì phải gửi thư cho bà Madam này, Madam kia… Mình mới gạ hỏi… Đang vui vẻ cười thế này. Bà Tống Minh Phương với Cụ Hồ bình thường rất là thân, cho nên bà mới bạo dạn bảo: ‘Bác ơi, Bác kể những mối tình của Bác cho chúng tôi nghe với nào.’ Thế là Cụ nghiêm mặt lại Cụ bảo: ‘Bây giờ có lẽ không còn chuyện gì để moi chuyện tôi nữa nên các cô các chú lại… Kể ra bây giờ thì chưa phải lúc. Nhưng mà thôi, hôm nay tôi cũng nói sơ cho cô chú… Tôi là người, chứ tôi không phải là ông thánh. Tôi có nhu cầu tất cả mọi thứ. Khi ra ngoài tôi ở đâu tôi cũng có người yêu cả. Mà người yêu không phải chỉ là [quan hệ] vớ vẩn, người yêu là phải sống với nhau như vợ chồng đấy. Nhưng mà tôi phải có nghị lực…’ Sau rồi Cụ mới chỉ vào mình…: ‘Khi tôi ở nước ngoài, tôi diện hơn các cô các chú nhiều lắm. Tôi không ăn mặc thế này đâu. Sau này về Trung Quốc rồi, tôi thấy mặc thế này nó tiện hơn. Nó phù hợp với Á Đông hơn…’.”

“Ông Cụ cũng có những cái hóm hỉnh lắm. Thí dụ như hôm tôi đưa Cụ đi đảo Hải Nam về, [chỉ tay lên tường] khi chụp cái ảnh này này. Khi lên bên Châu Giang ở Quảng Châu… [người ta] huy động dân Quảng Châu đông lắm, đứng ở bên sông hoan nghênh. Ô tô từ trên tàu chạy thẳng lên. Cụ ngồi trên xe vẫy tay. Về chỗ nghỉ rồi chúng tôi mới hỏi, ‘Tại sao dân hoan nghênh đông thế nhỉ?’ Cụ bảo, ‘Chú Sự xem tại sao?’ ‘Thưa Bác, vì Bác là bạn thân của ông Mao, bạn thân của ông Lưu Thiếu Kỳ, bạn thân của ông này ông khác... Chứ cháu ở Trung Quốc 8 năm nay rồi, cháu đi rất nhiều nơi rồi, nhưng mà cháu chưa thấy các nguyên thủ quốc gia các nước khác đến các tỉnh người ta hoan nghênh lắm, người ta bình thường thôi, chỉ mấy ông lãnh đạo gặp nhau thôi.’ Thế là Cụ cười, Cụ bảo, ‘Ờ, thế cũng có lý. Nhưng mà này, người ta hoan nghênh chúng ta là người giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, người ta không hoan nghênh chúng ta bởi chúng ta là cộng sản đâu.’ Lúc bấy giờ cách đây 60 năm nhé. Tôi mới thấy lạ quá. Tôi không dám hỏi gì. Tôi im. Sau tôi quay lại tôi hỏi ông Vũ Kỳ, ‘Quái nhỉ. Cụ Hồ 100% là cộng sản mà sao Cụ nói câu gở thế nhỉ?’ Ông Vũ Kỳ vuốt râu bảo, ‘Cái này phải suy nghĩ lâu dài. Ông cụ nói là có hàm ý sâu sắc lắm đấy.’

“60 năm sau, tôi nhớ lại chuyện này. Vừa rồi tôi sang [Trung Quốc] tôi đã đến bến Châu Giang, cái nơi mà tôi đón Cụ Hồ để tôi nhớ lại cái đó, là ngay từ đó Cụ Hồ đã có cái suy nghĩ như vậy. Do đó nên vừa rồi rất nhiều người viết rất nhiều chuyện về Cụ Hồ... thì có cái tôi công nhận [đúng].”

_____________

Ghi chú:

[i] Lưu ý, đây là góc nhìn của một người từng làm phiên dịch cho Hồ Chí Minh, từng có thời gian sống bên cạnh ông. Về phần mình, tôi đã có hai bài viết về nhân vật này: (i) “Cái giá của tự do là sự cảnh giác thường trực”, và (ii) “Các ông trùm gây tội ác với đồng loại như thế nào?




  • Đón xem phần II: “Hồ Chí Minh có phải là Hồ Tập Chương không?”



Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội
.

Thứ Ba, 15 tháng 8, 2017

VIỆT NAM CÔ ĐƠN

Việt Nam cô đơn và lạc trong một thế giới bất an và bất định
Nguyễn Quang Dy
 
“Chỉ có những kẻ khôn ngoan nhất và ngu xuẩn nhất là không thể thay đổi” (It is only the wisest and the stupidest that cannot change). (Khổng tử- 551-479 BC)
Có thể nói ngay (mà chưa cần phân tích) là Việt Nam cô đơn và lạc trong một trật tự thế giới mới bất an và bất định, của một thế giới “không phẳng” (xin lỗi Tom Friedman). Nhiều nước cũng khốn đốn (như Venezuela) chứ không riêng Việt Nam. Nhưng Việt Nam đang trong một tình thế hiểm nghèo (vì Trung Quốc đè) và có đặc thù riêng cần làm rõ. Chủ nghĩa “đặc thù” (exceptionalism) và “tiệm tiến” (Gradualism) cùng với chủ nghĩa “cực đoan” (extremism) và “giáo điều” (dogmatism), chính là những rào cản trước đòi hỏi đổi mới và tiến bộ. Sau nhiều năm cố gắng đổi mới và hội nhập với thành quả đáng kể, Việt Nam đang tụt hậu so với láng giềng. Tuy có nhiều tài nguyên và nguồn nhân lực, nhưng đất nước đang kiệt quệ về tài chính và phụ thuộc vào Trung Quốc. Tuy hô khẩu hiệu “làm bạn với tất cả”, nhưng Viêt Nam vẫn “thân cô thế cô” (Bill Hayton), bị bắt nạt nhưng không có đồng minh bênh vực. Trong khi sa vào “bẫy thu nhập trung bình”, Việt Nam vẫn chưa chịu thay đổi thể chế. 
 
Trật tự thế giới mới

Năm 2016 được đánh dấu bởi hiện tượng “Brexitism” (tại Anh) và Trumpism (tại Mỹ). Đó là một xu thế mới tạo ra một bước ngoặt lịch sử, và mở ra một thời kỳ mới, không chỉ đối với Anh mà cả Cộng đồng Châu Âu, không chỉ đối với Mỹ mà cả thế giới. Toàn cầu hóa đang bị thách thức bởi chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy, các giá trị và thành quả của nó đang bị phản bác. Tự do thương mại bị thay thế bởi chủ nghĩa biệt lập (như America First). Các giá trị dân chủ tự do (liberal democracy) bị thách thức, và nhân quyền bị coi nhẹ. Trật tự thế giới đang thay đổi như một số học giả đã từng cảnh báo trong cuốn “The End of History” (Francis Fukuyama) hay “The End of Power” (Moises Naim). Tuy có nhiều cách lý giải khác nhau, nhưng hầu hết đều nhất trí là trật tự thế giới mới bất an và bất định, thậm chí “vô chính phủ” (Robert Kaplan, “Eurasia’s Coming Anarchy”, Foreign Affairs, February 15, 2016).

Trong khi phương Tây và Mỹ đi xuống (falling), thì phương Đông đi lên (rising) với sự trỗi dậy đầy ấn tượng của Trung Quốc. NATO và EU phân hóa do tác động của Brexitism & Trumpism. Sau khi Anh rút khỏi EU, Pháp cũng lao đao, còn Đức phải suy nghĩ lại về an ninh của mình. Trong khi đó, Trung Quốc tranh thủ cơ hội, thách thức Mỹ và trật tự thế giới do Mỹ cầm đầu, với “Giấc mộng Trung hoa” (China Dream) và bàn cờ lớn “Một Vành đai, Một Con đường” (One belt, One road). Hiện nay, bán đảo Triều Tiên, Biển Hoa Đông, và Biển Đông đã trở thành những điểm nóng như “thùng thuốc súng” (powder kegs). Trước sự trỗi dậy đầy thách thức của Trung Quốc và sự rút lui của Mỹ, Nhật buộc phải tự lo cho an ninh của mình bằng cách sửa đổi  Hiến pháp (điều 9) để có thể tái vũ trang. Đây là một thay đổi rất lớn trong bức tranh địa chính trị Đông Á, có thể làm thay đổi cục diện chiến lược tại khu vực. 
Trong bối cảnh đó, nhiều nước phải điều chỉnh thể chế và chính sách để thích ứng với môi trường và trật tự thế giới mới. Nhưng với nhiều người, thay đổi tư duy “đặc thù” là việc không hề dễ. Người ta vẫn hành xử như “thời chiến tranh lạnh”, ngộ nhận về quyền lực và vị thế của mình, mà không lường được hệ quả. Sự ngạo mạn và ngộ nhận quyền lực không đúng lúc, đúng chỗ, sẽ dẫn đến tai họa. Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh là một ví dụ.
Mỹ có thể cử biệt đội SEAL xâm nhập Pakistan để tìm diệt Osama Bin Laden (2/5/2011), và Trung Quốc cũng có thể cử các biệt đội “Săn Cáo” (Fox Hunt) sang Mỹ và các nước khác để săn lùng các quan chức tham nhũng của họ đang lẩn trốn. Nhưng Việt Nam không phải là Mỹ hay Trung Quốc. Mình phải tự biết mình là ai và đang ở đâu. Lúc này, Việt Nam đang trong một tình thế đầy hiểm nghèo, cả về kinh tế lẫn chủ quyền Biển Đông. Trong một quan hệ bất đối xứng (asymmetric) các nước nhỏ hơn và yếu hơn càng phải thao lược. Nói cách khác, đừng nên quá sợ Trung Quốc, nhưng cũng đừng nên coi thường Đức, là đối tác chiến lược quan trọng nhất trong số các nước EU (nhất là sau khi Mỹ rút khỏi TPP).  
Theo các chuyên gia, Trung Quốc đã ứng dụng “Tam chủng Chiến pháp” (Three Warfares doctrine) bao gồm “chiến tranh tâm lý” (psywar), “chiến tranh pháp lý” (lawfare), và chiến tranh truyền thông (media warfare), để đạt được mục tiêu chiến lược. Theo binh pháp Tôn Tử, thượng sách là “thắng mà không cần đánh” (winning without fighting). Trung Quốc quen dọa nạt và bắt nạt (bluffing and bullying) các nước láng giềng tại Biển Đông, cũng như tại Doklam (nơi đang diễn ra xung đột giữa Trung Quốc với Ấn Độ và Bhutan). (Brahma Chellaney, “Calling the Chinese bully’s bluff”, Project Syndicate, August 8, 2017).
Việt Nam đi về đâu   
Trong giai đoạn đổi mới lần thứ nhất (từ 1986), đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính Châu Á (từ 1997), khi kinh tế một số nước bị đình trệ thì Việt Nam nổi lên như “con hổ mới” ở Châu Á. Nhưng đáng tiếc là chưa đầy 10 năm dưới thời thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (2006-2016), kinh tế Việt Nam chưa kịp cất cánh thì đã lụn bại. “Con hổ mới” đã biến thành “con mèo hoang”.  Các nhóm lợi ích thân hữu đã lợi dụng thể chế độc quyền độc đảng để lũng đoạn và tham nhũng, biến các tập đoàn kinh tế nhà nước (những “quả đám thép”) thành gánh nặng thua lỗ và nợ nần (như Vinashin). Mô hình kinh tế thị trường “định hướng XHCN” đã đẻ ra một thứ quái thai là “tư bản đỏ”. Các nhóm lợi ích được chính quyền bảo kê đã kết hợp “CNXH thân hữu” (là cái vỏ) với CNTB hoang dã (là cái ruột) trong một cuộc hôn phối vụ lợi. Đoàn tàu cách mạng Việt Nam đã bị chúng bắt cóc và bẻ ghi chạy theo một hướng khác.
Trong khi Trung Quốc cải cách kinh tế thành công và “cất cánh” với mô hình phát triển mang “bản sắc Trung Quốc”, được các học giả phương tây gọi là “nền độc tài bền vững” (resilient authoritarianism), thì Việt Nam thất bại. Nguyên nhân vừa do thể chế bất cập (structural gaps) giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN, vừa do điều hành tồi (operational failure) và quản trị kém (poor governance) cộng với tham nhũng tràn lan. Một khi quyền lực và tham nhũng không bị kiểm soát, thì nó sẽ hoành hành như con quái vật Frankenstein bị xổng. Tư duy “kiểu Việt Nam” dựa trên sự ngộ nhận về tính “đặc thù” (exceptionalism) và tư tưởng “giáo điều” (dogmatism), bị các nhóm lợi ích lợi dụng và thao túng để trục lợi.
Cải cách hành chính bị vô hiệu hóa bởi chống đối ngầm (passive resistance). Luật doanh nghiệp bị gây khó dễ bởi các loại “quy trình” và “giấy phép con” (thậm chí vi hiến) được các bộ ngành và địa phương đặt ra để trục lợi (rents seeking). Mọi việc đều bị chính trị hóa. Thói quen tư duy (mindset) “kiểu Việt Nam”, và cách làm việc “không giống ai” đã bị dập khuôn thành “quy trình” dựa trên danh nghĩa “hệ tư tưởng XHCN” (như bất khả xâm phạm), nên rất khó thay đổi.  Ví dụ cái “loa phường”, ai cũng biết là đã quá lỗi thời, nhưng đến tận bây giờ người ta vẫn chưa từ bỏ. Đó là những sản phẩm ý thức hệ từ thời “chính trị là thống soái”.
Kết quả là tài nguyên thiên nhiên (“rừng vàng biển bạc”) đang cạn kiệt dần. Trong khi dầu khí, than đá, kim loại (và kể cả cát) sắp hết, thì ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, nhiều nơi tới mức báo động, như bờ biển miền Trung (bị ô nhiễm bởi Formosa), hoặc không khí ô nhiễm tại Hà Nội. Tài chính quốc gia đang cạn kiệt: ngân sách thu không đủ chi, dự trữ quốc gia chỉ đủ trả nợ đến hạn. Chính phủ không biết lấy tiền từ đâu để đầu tư phát triển, trong khi viện trợ phát triển (ODA) đang cạn dần. Nạn tham nhũng tràn lan đã làm giảm tín nhiệm của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế, và lòng tin của người dân cũng đang cạn kiệt. Nhiều người cảm thấy bất an và bất lực đành “bỏ phiếu bằng chân”. Mỗi năm có khoảng một trăm ngàn người bỏ đất nước ra đi. Họ có thể là doanh nhân, trí thức, hay quan chức. Dòng người di cư ngày càng đông đã gây ra nạn chảy máu chất xám và thất thoát tài chính. Cũng như người Trung Quốc, người Việt đang đổ xô di cư sang Mỹ, Canada, Úc, Anh, và các nước phương Tây khác. 
Khủng hoảng kép
Trong tháng 7/2017, có hai sự cố như “khủng hoảng kép” (double crises) vào thời điểm nhạy cảm, đặt Việt Nam vào thế mắc kẹt. Thứ nhất là khủng hoảng do khoan dầu tại Biển Đông. Việt Nam đã yêu cầu Repsol ngừng khoan thăm dò lô 136-03 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trước sức ép của Trung Quốc đe dọa tấn công các cứ điểm Trường Sa nếu Việt Nam không chịu dừng. Dù ngừng tạm thời hay lâu dài, Việt Nam khuất phục Trung Quốc về quyền khai thác dầu khí, do không có đồng minh bảo vệ, và không đủ sức mạnh răn đe. Thứ hai là khủng hoảng ngoai giao Viêt-Đức. Việt Nam đã dùng hạ sách bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin và đưa về nước (theo thông báo của phía Đức) “như một bộ phim hành động thời chiến tranh lạnh”. Đức đã phản ứng mạnh mẽ, lên án Việt Nam vi phạm luật pháp Đức và quốc tế một cách “trắng trợn” (blatant) và “chưa từng có” (unprecedented).
Vụ bắt cóc này đang dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng chưa lường hết, vì cả hai phía đều đang bị mắc kẹt. Chính phủ Đức coi vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh là “không thể chấp nhận được” (unacceptable) và “không thể bỏ qua”. Đức đang đặt mọi phương án trừng phạt Việt Nam lên bàn (và chờ thái độ phản ứng của Việt Nam), đúng lúc Việt Nam cần Đức ủng hộ Hiệp định tự do thương mại (EVFTA), cũng như tranh chấp tại Biển Đông. Đức là đối tác chiến lược quan trọng nhất của Việt Nam tại EU. Đối với Việt Nam, EU là đối tác thương mại lớn thứ hai sau Trung Quốc và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai sau Mỹ. Thương mại song phương Viêt-Đức tăng từ $10 tỷ (2006) lên $48 tỷ (2016). Sau khi TPP bị Mỹ bỏ rơi, thì có lẽ EVFTA là cái phao cứu sinh duy nhất đối với Việt Nam. Nhưng, thủ tướng Angela Merkel có thể gây áp lực với các nước EU phủ quyết EVFTA cho Việt Nam (dự kiến năm 2018).
Hiện nay, Viêt Nam đang bị bao vây bởi quá nhiều vấn đề nan giải (như “thập diện mai phục”). Nhưng nan giải và bức xúc nhất vẫn là vấn đề nợ công và Biển Đông. Việt Nam làm thế nào để trả nợ và đối phó với nguy cơ vỡ nợ (nếu mất khả năng thanh toán) hay nguy cơ xung đột Biển Đông do tranh chấp chủ quyền và khai thác dầu khí (không thể nhân nhượng)? Liệu Trung Quốc có dám tấn công Trường Sa (như năm 1988) hay chỉ hù dọa bắt nạt Việt Nam, theo kế “rung cây dọa khỉ” và “bất chiến tự nhiên thành” (trong Binh pháp Tôn Tử)?

Tại hội nghị ngoại trưởng ASEAN-50 (Manila, August 5-8, 2017), mặc dù bị cô lập trong lập trường về Biển Đông, và trước sức ép của Trung Quốc, nhưng đoàn Việt Nam vẫn kiên trì đấu tranh. Cuối cùng hội nghị ASEAN vẫn ra được Thông cáo Chung phản ánh được phần nào quan điểm cứng rắn của Việt Nam về Biển Đông và về quy tắc ứng xử (COC), làm Trung Quốc tức giận, hủy cuộc gặp chính thức giữa hai ngoại trưởng. Tuy nhiên, Thông cáo Chung của ba ngoại trưởng Mỹ, Nhật, Úc (Manila, 7/8/2017) có nội dung và lời lẽ cứng rắn hơn nhiều so với Thông cáo Chung của các ngoại trưởng ASEAN (6/8/2017). Ba ngoại trưởng đã lên án hành vi “bồi đắp đảo và quân sự hóa các thực thể đang tranh chấp”, và kêu gọi “quy tắc ứng xử Biển Đông phải ràng buộc pháp lý, thực chất và hiệu quả”. (Laura Zhou, “China Vietnam maritime tensions flare as foreign ministers meeting called off”, SCMP, August 7, 2017

Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin tuy táo tợn nhưng “chuyên nghiệp một cách vụng về” (too good too be true). Thứ nhất, họ tiến hành giữa ban ngày tại công viên có nhiều người qua lại (rất lộ liễu). Thứ hai, họ để lại smart phone tại hiện trường (có chứng cứ). Thứ ba, họ thuê xe có cài đặt thiết bị GPS chống trộm (dễ phát hiện). Thứ tư, họ đưa Trịnh Xuân Thanh vào Đại Sứ Quán Việt Nam (theo thông báo của Đức). Không biết đây là do sơ xuất của những người thực hiện, hay là họ làm theo kịch bản của một đạo diễn “cao tay”, cố ý diễn kịch để khiêu khích chính phủ Đức. Có lẽ đây là một nước cờ “gambit” trong “trò chơi vương quyền” (game of thrones) đầy bí ẩn “kiểu Việt Nam”, trong khi có “đợt sóng ngầm” (theo Lê Hồng Hiệp) đang diễn ra trước Đại hội Đảng Giữa kỳ. Khủng hoảng ngoại giao do sự kiện này gây ra sẽ tác động tiêu cực đến quan hệ Viêt Nam với Đức (cũng như với EU), làm cho quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế của Việt Nam càng thêm khó khăn. Nó vừa phản ánh khủng hoảng chính trị và đấu tranh quyền lực tại Việt Nam đã tới đỉnh điểm, vừa bộc lộ khủng hoảng truyền thông và đấu đá phe phái, với nhiều “tin vịt” (fake news) làm thật giả lẫn lộn.     
Giải pháp khả thi
Gốc rễ của vấn nạn tham nhũng là do chế độ độc quyền, độc đảng, bị các nhóm lợi ích thân hữu thao túng để trục lợi. Trong một chế độ không có pháp quyền mà chỉ có đảng trị, thì không thể kiểm soát được quyền lực, vì những người cầm quyền tự cho mình đứng trên pháp luật và thao túng mọi quyền lực và nguồn lực xã hội, dẫn đến tha hóa quyền lực, bất công xã hội và mất lòng dân. Nếu bắt và xử được một Trịnh Xuân Thanh thì sẽ có mười Trịnh Xuân Thanh khác, nếu không thay đổi thể chế chính trị. Vì vậy, để thúc đẩy cải cách thể chế (vòng hai), Việt Nam cần tập hợp những “nhân tố thay đổi” (change agents) trong nước và ngoài nước thành một liên minh những người cùng chủ trương cải cách thể chế (a coalition of like-minded institutional reformers). Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng vừa thành lập là một ý tưởng đúng hướng (nếu đó là thực chất), vì một chính phủ “Kiến tạo” (Constructive government).   
Đối với Việt Nam, lúc này có lẽ Nhật là đối tác chiến lược quan trọng nhất làm đối trọng trước sự bành trướng và bá quyền của Trung Quốc tại Biển Đông, khi Mỹ không còn đáng tin cậy. Nhật không phải chỉ là một cường quốc kinh tế, mà còn là một cường quốc quân sự, sẵn sàng hỗ trợ các nước Đông Nam Á duy trì cân bằng quyền lực tại khu vực này. Lợi ích an ninh của Nhật tại Biển Hoa Đông song trùng với lợi ích chiến lược của họ tại Biển Đông, nên cam kết an ninh của Nhật đối với Việt Nam và khu vực chắc bền vững và đáng tin cậy hơn.
Vì Chính quyền Trump đã quyết định rút khỏi TPP và có thể giảm cam kết an ninh với Châu Á, nên việc các nước khu vực hợp tác chiến lược mạnh mẽ hơn với Nhật càng trở nên thiết yếu hơn bao giờ hết để lấp vào chỗ trống đó. Các nước không chỉ cần tăng cường quan hệ song phương mà còn phải lập ra một “Mạng lưới An ninh trên Nguyên tắc” (Principled security network) như Tổng thống Barack Obama đã từng gợi ý, hoặc một “Mạng lưới Liên kết mở” (Mesh Networks) như Anne-Marie Slaughter & Mira Rapp-Hooper mới đề cập gần đây (How America’s Asian Allies Can Survive Trump”, Project Syndicate, January 24, 2017). 
Cơ chế của một mạng lưới an ninh khu vực như vậy phù hợp với mô hình an ninh tập thể và đối tác chiến lược, nhằm đảm bảo sự tồn tại bền vững. Theo Anne-Marie Slaughter, ngay cả khi “một khâu bị đứt thì hệ thống vẫn tồn tại”. Quan hệ an ninh song phương được tăng cường giữa Nhật với Việt Nam cũng như các nước khác (như Mỹ, Ấn, Úc) là nòng cốt để xây dựng một “Đối tác Chiến lược cùng Quan điểm” (Like-Minded Strategic Partnership) bao gồm Mỹ-Nhật-Ấn-Úc và Việt Nam (AJIA+V). Một liên minh bền vững như vậy là một đảm bảo thiết yếu cho sự thiếu hụt cam kết an ninh của Mỹ đối với khu vực, cũng như là một răn đe hiệu quả đối với mối đe dọa ngày càng lớn của Trung Quốc tại Biển Đông. Trong bối cảnh đó, thỏa thuận Mỹ sẽ cho tàu sân bay thăm Cam Ranh (năm 2018) qua chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch (7-10/8/2017) tiếp theo chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, (31/5/2017) là một dấu hiệu răn đe, có thể làm thay đổi cuộc chơi (game changer). 
Việt Nam hoặc bất cứ nước nào khác cũng không thể một mình đương đầu với Trung Quốc. Các nước có cùng lợi ích chiến lược tại Biển Đông phải liên kết lại trong một liên minh để răn đe và ngăn chặn Trung Quốc bành trướng. Muốn duy trì hòa bình và ổn định tại Biển Đông, không thể trông chờ vào Trung Quốc và ASEAN thỏa thuận một bộ quy tắc ứng xử (COC) có hiệu lực. Trong mấy năm nữa, ít nhất cho đến hết nhiệm kỳ của Tổng thống Donald Trump, khi khu vực còn nghi ngờ vào các cam kết của Mỹ, nếu các nước này không hình thành được một liên minh gồm các nước có chung lợi ích chiến lược như vậy, để đối phó với Trung Quốc, thì sẽ là quá ít và quá muộn (như bài học dưới thời Tổng thống Barack Obama).   
Thay lời kết
Những người cực đoan giống con gà trống. Mỗi lần nó gáy thì thấy mặt trời mọc, nên nó ngộ nhận tưởng là do mình gáy nên mặt trời mọc. Vì vậy, nếu nó chưa gáy mà mặt trời đã mọc thì nó rất tức tối, cho rằng mặt trời sai, chưa gáy đã mọc. Những người cực đoan thường bảo thủ, với tư duy “đặc thù”, nên không chịu lắng nghe. Họ có xu hướng luôn khẳng định mình là đúng, còn những người khác là sai. Vì tư duy cực đoan và giáo điều, họ tin rằng chỉ có họ mới có quyền phán quyết đúng sai. Những ai không giống họ và không theo họ đều bị coi là phản động và thù nghich. Vì họ không chấp nhận đa nguyên, nên khẩu hiệu “thêm bạn bớt thù” là vô nghĩa. Nếu không tỉnh ngộ và thay đổi thì Việt Nam rất khó hội nhập, sẽ cô đơn không có bạn bè mà chỉ có kẻ thù. Ngay bạn bè và đồng minh cũng có thể biến thành kẻ thù.
Chính quyền Việt Nam tỏ ra quyết liệt chống tham nhũng (tuy nhắm vào những đối thủ chính trị nhất định) nhưng lại không chịu thay đổi thể chế chính trị (là nguyên nhân đẻ ra ra tham nhũng). Trong khi chống tham nhũng, lãnh đạo Việt Nam sợ đánh “vỡ bình” (chế độ) nhưng lại sẵn sàng đánh chìm cái thuyền kinh tế & đối ngoại (là cái phao cứu sinh). Câu chuyện bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ở Berlin là một ví dụ, bất chấp luật pháp của Đức và quốc tế, có thể bị Chính phủ Đức trừng phạt, tuy Đức là đối tác chiến lược quan trọng nhất của Việt Nam tại EU. Khủng hoảng bất ngờ trong quan hệ Đức-Viêt thật không đúng lúc khi Việt Nam rất cần Đức và EU để ủng hộ EVFTA, và bênh vực Việt Nam đối phó với Trung Quốc tại Biển Đông. Trong khi hô khẩu hiệu “làm bạn với tất cả”, Việt Nam đang biến một đối tác tốt thành thù địch. Đây là một nghịch lý chết người, mà chỉ có thể hóa giải được bằng thay đổi thể chế.   
Quyền lực và tham nhũng là hai thứ khó kiểm soát, nếu không quyết thay đổi thể chế bằng cách thay mô hình đảng trị (party rule) bằng pháp trị (rule of law) và pháp quyền (rule by law). Nếu quyền lực không bị kiểm soát nó sẽ tiếp tục đẻ ra tham nhũng, do quản trị yếu kém và thiếu minh bạch. Đó là nguyên nhân chính làm kinh tế thị trường “định hướng XHCN” bị méo mó, đi trệch đường ray phát triển. Từ mô hình phát triển (growth model) để “hóa rồng/hóa hổ” Việt Nam đã biến thành “con mèo hoang”, với mô hình thất bại (failed state). Đó là bài học đắt giá từ những “diễn biến tiêu cực” trong một thập kỷ qua, làm triệt tiêu thành quả đổi mới của hai thập kỷ trước đó, làm Việt Nam vẫn sa lầy tại ngã ba đường ý thức hệ.  
Tham khảo

1. Le Hong Hiep, “Asia’s Evolving Security Order”, Project syndicate, August 7, 2017

2. Brahma Chellaney, “Calling the Chinese bully’s bluff”, Project Syndicate, August 8, 2017

3. Laura Zhou, “China Vietnam maritime tensions flare as foreign ministers meeting called off”, SCMP, August 7, 2017

4. Anne-Marie Slaughter & Mira Rapp-Hooper, “How America’s Asian Allies Can Survive Trump”, Project Syndicate, January 24, 2017 

5. Robert Kaplan, “Eurasia’s Coming Anarchy”, Foreign Affairs, February 15, 2016

6. Moises Naim, “the End of Power”, Basic Books, New York, 2013
NQD. 12/8/2017
(Nguyễn Quang Dy là Harvard Nieman Fellow 1993, hiện nay là nhà báo và nhà nghiên cứu độc lập. Bài này viết theo chủ đề “Việt Nam và trật tự thế giới mới” để đóng góp làm tài liệu tham khảo cho Hội thảo Hè 2017, và để đăng trên Viet-studies).
 Tác giả g

Thứ Năm, 16 tháng 3, 2017

ĐI NỐT CON ĐƯỜNG TÌNH ĐÃ CHON

PHẠM DUY VIẾT VĨNH BIỆT HOÀNG CẦM

PHẠM DUY
Trong một đoạn đời u uất của kiếp ca nhân trên đường lữ thứ, tôi đã được cứu rỗi bằng hình ảnh lá diêu bông, vườn ổi, cỗ bài tam cúc, con bê vàng lạc mẹ… của người bạn thi sĩ mang tên Hoàng Cầm.
Hoàng Cầm (trái) và Phạm Duy sau bao năm xa cách.

Mối duyên kỳ ngộ
Từ sau Cách mạng tháng Tám, Hoàng Cầm, Văn Cao với tôi đã trở thành bạn thân, lúc nào, ngày nào cũng có nhau, khiến nhiều người gọi chúng tôi là “bộ ba bất khả ly”. Văn Cao với tôi xưng là “ông” – “tôi”, còn tôi và Hoàng Cầm thích gọi nhau là “tao” – “mày” vì tuổi chúng tôi chỉ chênh nhau vài tháng.
Kháng chiến chống Pháp nổ ra, tôi ở Lào Cai với Văn Cao ít lâu rồi khoác ba lô ra đi, chọn con đường làm kẻ hát rong.
Cuối năm 1947 đó, tôi và nhạc sĩ Ngọc Bích từ tỉnh lỵ Thái Nguyên bị tiêu hủy hoàn toàn đi bộ qua Bắc Giang, tìm về làng Lan Giới thuộc khu Nhã Nam, Yên Thế (Bắc Giang) để gia nhập đội Văn nghệ kháng chiến của Hoàng Cầm. Lúc ấy, đội văn nghệ chỉ có 7 – 8 người nhưng chúng tôi đi lưu diễn khắp những nơi có Vệ Quốc Đoàn đóng quân trong ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng.
Tôi và Hoàng Cầm tính trái ngược nhau, trong khi tôi thích đùa giỡn thì anh giống như một ông đồ non, lúc nào cũng ngồi hút thuốc lào, rung đùi, trầm ngâm.
Nhà thơ Hoàng Cầm
Nhà thơ Hoàng Cầm

Lúc ấy, anh đang sống chung với Tuyết Khanh – người sinh ra Kiều Loan mà sau này duyên kỳ ngộ đã trở thành con gái đỡ đầu của tôi bên Mỹ. Cầm mơ mộng, nặng tình. Cho đến giờ tôi vẫn nhớ đêm vợ chồng Cầm – Khanh chia tay nhau để Cầm lên đường đi lưu diễn vùng kháng chiến, lần bên nhau cuối cùng của họ.
Trong bữa cơm đạm bạc tại Phố Nỉ (Bắc Giang), Hoàng Cầm ngồi rung đùi ngâm thơ bên cạnh người vợ mà sau đấy rồi đây anh sẽ không bao giờ gặp lại nữa, giọng ngâm buồn rười rượi…

Hồn thơ tranh đấu…
Với tôi, chỉ có thơ của Hoàng Cầm mới làm cho miền đất Kinh Bắc lung linh và hiển hách hơn bất cứ một giọng thơ nào khác. Thơ kháng chiến của anh không chỉ có hình ảnh Vệ Quốc Quân mà còn rất quan tâm tới người dân thường như người mẹ già, người vợ hiền, cô hàng xén răng đen, đàn trẻ nhỏ sột soạt quần nâu… Khi những bài thơ đó được ngâm lên, ai mà không muốn chiến đấu để gìn giữ cảnh vật và những con người thân yêu đó?
Những bài thơ kháng chiến như vậy đã được Hoàng Cầm và tôi diễn ngâm trong rừng sâu, trên đồi cao hay trong những hang đá dưới ánh đuốc bập bùng… Trong ba lô của bất cứ một Vệ Quốc Quân nào cũng có những bài thơ chép tay của Hoàng Cầm.
Tôi không có tham vọng đóng vai trò một nhà khảo cứu phê bình, tôi chỉ muốn hoá giải một nỗi buồn thương trong tôi mỗi khi nhớ tới Hoàng Cầm. Tôi muốn nói rằng: Trước hết, trong thi ca Việt Nam có một giai đoạn được gọi là ”thời kỳ kịch thơ” thì ai cũng phải công nhận đó là thời kỳ của Hoàng Cầm. So với các thi sĩ khác, kịch thơ của Hoàng Cầm chói lọi nhất (mặc dù về sau, kịch thơ không còn đất đứng).
Năm 2000, trở về Hà Nội, người tôi đến thăm đầu tiên là Hoàng Cầm. Khi tôi thổ lộ ý định muốn trở về định cư trên đất Mẹ, anh bảo dù cho còn chút hơi tàn cũng cố ký vào lá đơn để tôi trở về, vì người nghệ sĩ không thể nào sống thiếu quê hương. Anh đã sống một đời thơ như thế, câu nào, chữ nào cũng chan chứa hương vị quê hương.
Phạm Duy, Nguyễn trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha thăm nhà thơ Hoàng Cầm.

Giờ đây phải vĩnh biệt anh, tôi càng thấm thía câu chuyện mà chúng tôi đã nói cùng nhau vào lúc cả hai đều gần đất xa trời, rằng rốt cuộc đều thấy đời mình chỉ là một cuộc chơi!
Cuộc chơi đã đưa hai đứa lên rất cao, rồi cũng đã dìm hai thằng xuống rất sâu nhưng cả hai kẻ lãng tử này đều được cứu rỗi bởi một sợi dây bí ẩn. Đó là sợi dây cảm nhận, rung động và sáng tạo nghệ thuật – nó làm cho chúng tôi, sau nhiều cơn vật vã vẫn có thể gạn đục khơi trong rồi làm ra những vần thơ điệu nhạc lung linh sức sống kỳ diệu của con người.
Vâng! Nghệ thuật đã rửa hồn chúng tôi, như Hoàng Cầm đã nói: “Ton art purifie ton âme” và đã giúp anh đi nốt con đường đã chọn: CON ĐƯỜNG TÌNH, tình nước, tình người.
__________

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

THẬT KHÓ TƯỞNG TƯỢNG RA ĐIỀU NÀY

Bị ném bom nguyên tử, vì sao người Nhật không hô hào tiêu diệt nước Mỹ?

Vụ nổ bom nguyên tử ở Hiroshima. (Ảnh: Internet)
Tướng quân MacArthur là danh tướng của Mỹ. Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne xa xôi đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế vô số người Nhật muốn xé xác ông, còn ông cũng hận người Nhật thấu xương.
   Vào 2:5 chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật Bản, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước, mất nước, mất nước”.

Nhưng tướng MacArthur mang quân đến vì hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ
Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn gây áp lực đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.
Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật vô cùng chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó khăn để đi qua nhau, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu họ là kẻ chiến thắng thì họ có làm được như thế không?
Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.
  Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật xây dựng tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.
   Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt cho mình để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.
   Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.
   Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.
Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.

Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.

   Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.
   Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang. Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.

Người Nhật tổ chức buổi lễ long trọng đưa tiễn tướng quân MacArthur
Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng điền sản của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”
   Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng, tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!
  Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.
Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.
Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.
                                             Theo ĐẠI KỈ NGUYÊN

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

HÃY THOÁT KHỎI VÒNG KIM CÔ CHỦ NGHĨA DUY VẬT

     Bài này rất hay tuy hơi dài và tôi tin rằng Bạn sẽ rất hài lòng khi đọc xong nó !

 Albert Enstein: Trực giác là thứ duy nhất thực sự có giá trị

 (Ảnh: Internet)

(Ảnh: Internet)
Bình luận sự kiện khám phá ra sóng hấp dẫn, trang web của Đại học Boston kêu lên: “Cái tên Einstein bao lâu nay vẫn đồng nghĩa với thiên tài”. Mọi người đều tán thành với điều này, nhưng một lần nữa, câu hỏi cũ lại dấy lên: Làm sao Einstein có thể có một sức mạnh tư duy phi thường đến như vậy? Câu trả lời là… “trực giác, thứ duy nhất thực sự có giá trị”, như chính Einstein đã nói.
Trực giác là một khái niệm được mọi người thừa nhận, kể cả người vô thần lẫn hữu thần. Tuy nhiên, người vô thần và hữu thần có cách giải thích khác nhau về bản chất của trực giác. Người hữu thần coi đó là một quà tặng đặc biệt của Thần, trong khi người vô thần cho rằng trực giác, dù thế nào chăng nữa, cũng chỉ là một dạng thức của tư duy – một dạng hoạt động đặc biệt của bộ não. Vì thế, bản chất của trực giác phụ thuộc vào cấu tạo vật chất của bộ não, và do đó có thể giải thích được bằng khoa học. Đó là lý do để người ta đi tới quyết định sẽ nghiên cứu bộ não của Einstein sau khi ông mất, hòng khám phá xem yếu tố vật chất cụ thể nào đã làm cho Einstein trở thành một thiên tài phi thường đến như vậy. Và quyết định đó đã được thực hiện:
Không đầy 7 tiếng rưỡi đồng hồ ngay sau khi Einstein mất, người ta đã mổ hộp sọ của ông để lấy bộ não mang đi nghiên cứu. Thậm chí đôi mắt của ông cũng bị lấy đi và được giao cho một bác sĩ nhãn khoa. Trong quá trình nghiên cứu, bộ não đã bị cắt ra thành 240 phần, mỗi phần khoảng 1cm3, hiện phần lớn được lưu giữ tại Bảo tàng Quốc gia Mỹ về Sức khỏe và Y khoa, và 46 phần được lưu giữ tại Bảo tàng Mütter ở Mỹ.
Nhưng theo Wikipedia, việc lấy não của Einstein để nghiên cứu đã trở thành một vấn đề gây tranh cãi, vì người ta không biết chắc chắn việc này có được sự đồng ý của chính Einstein trước khi mất hay không. Trong tiểu sử Einstein viết năm 1979, Ronald Clark nói rằng “ông (tức Einstein) cứ nhất định muốn bộ não của mình được sử dụng để nghiên cứu và xác ông được hỏa táng”, nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy điều Clark nói không đúng, và việc bộ não của ông bị lấy đi để nghiên cứu thực ra đã không được phép của cả Einstein lẫn những người thân của ông (xem Wikipedia, Albert Einstein’s brain, Fate of the brain).
Tôi thấy ý kiến của Clark khó tin, bởi làm sao mà Einstein “cứ nhất định” (insist) muốn bộ não của ông phải đem ra nghiên cứu? Thủ tục phẫu thuật thường bao gồm chữ ký tán thành của bệnh nhân hoặc người thân của bệnh nhân. Tại sao trong trường hợp này không thấy nhắc đến, nhất là khi đã có dư luận nghi ngờ. Vả lại, nói như Clark thì xem ra Einstein tự coi mình là một siêu nhân phi phàm, điều này không phù hợp với tính cách khiêm tốn của ông nói chung.
Tóm lại, nếu việc mổ xẻ này mà không được ông và người thân của ông cho phép thì thật là thất đức. Điều khó hiểu hơn nữa là đôi mắt của ông cũng bị lấy đi. Tại sao phải lấy? Chẳng lẽ thiên tài còn phụ thuộc vào đôi mắt nữa ư? Đó là hệ quả của tư duy duy vật và vô thần. Nhưng hãy tạm gác chuyện này để tìm hiểu xem việc nghiên cứu bộ não của Einstein có kết quả gì không.

Kết quả nghiên cứu bộ não của Einstein

Theo Wikipedia, bộ não của Einstein chỉ nặng 1230 grams, nhẹ hơn mức trung bình của một người trưởng thành, vốn là 1400 grams. Từ đó lập tức suy ra rằng khối lượng não, hay cụ thể hơn là số lượng tế bào não, không tỷ lệ thuận với trí tuệ!
Chú ý rằng các nhà tiến hóa rất thích chứng minh sự tiến hóa của khỉ lên người bằng cách chỉ ra kích thước ngày càng lớn của bộ não: não lớn hơn là bằng chứng của sự tiến hóa hơn. Vậy các nhà tiến hóa sẽ nghĩ gì khi biết bộ não của Einstein nhỏ hơn người bình thường?
Cũng nên liên hệ tới số gene của người. Trước khi hoàn thành bản đồ gene người, các nhà khoa học đều nghĩ rằng số gene của con người phải nhiều hơn loài vật rất nhiều. Ý nghĩ này dựa trên một ấn tượng duy vật chủ nghĩa, rằng sinh vật càng phức tạp càng có nhiều gene, sinh vật càng tiến hóa cao càng có nhiều gene.

Nhưng khi bản đồ gene được công bố năm 2000, các nhà khoa học đều ngã ngửa: số gene của người cũng xấp xỉ như loài chuột, thậm chí chẳng nhiều hơn loài giun là bao.

Thiết nghĩ, đó là một trong những bài học lớn dạy cho loài người rằng tư duy vật chất cân đong đo đếm là một kiểu tư duy thổ thiển ấu trĩ. Nhưng tiếc thay, kiểu tư duy ấy dường như đã thấm vào xương tủy các nhà khoa học duy vật, đến mức không thể thay đổi. Vậy nếu tổng số tế bào của toàn thể bộ não không nói lên được điều gì thì hãy tìm hiểu số lượng tế bào trong từng khu vực đặc biệt của bộ não. Trước sau vẫn quy về số lượng.
Thật vậy, năm 1999, tạp chí y học Lancet của Anh công bố kết quả nghiên cứu của Sandra Witelson và các cộng sự của bà tại Đại học McMaster, Ontario, Canada cho thấy những điều mới lạ về bộ não của Einstein: Phần thuỳ phụ trách tư duy tưởng tượng và tư duy toán học lớn hơn phần thùy của người bình thường 15%. Sự kiện này được xem như một khám phá quan trọng đến nỗi báo chí Úc cũng đưa tin. Tờ Sydney Morning Herald ngày 19/06/1999 viết:
Trong khoa học, kích thước là yếu tố rất quan trọng. Vào khoảng đầu thế kỷ 20 người ta quan tâm rất nhiều đến vấn đề liệu những người có bộ não lớn hơn có thông minh hơn không. Sau Thế Chiến II, việc nghiên cứu chủ đề này gần như bị huỷ bỏ, nhưng gần đây công nghệ hiện đại cho phép xử lý hình ảnh bằng computer nên các nhà khoa học lại hướng vào việc tìm mối tương quan giữa thể tích não và chỉ số thông minh IQ. Sau khi Einstein mất năm 1955, bộ não của ông đã được bảo quản và đo đạc, nhưng người ta không đo thể tích của nó mà chỉ đo trọng lượng.

Kết quả cho biết trọng lượng não của Einstein không khác gì mấy so với trọng lượng não của hầu hết mọi người bình thường khác.

Các nhà khoa học kết luận: Một bộ não lớn (nặng) không phải là điều kiện thiết yếu để có một trí tuệ phi thường. Vì thế họ đã chuyển sự chú ý vào phần thuỳ của não (parietal lobes), mà theo họ đó là khu vực nhạy cảm có chức năng sản sinh và điều khiển các hình ảnh không gian ba chiều và trình bày các khái niệm toán học. Điều bất ngờ đã được phát hiện: Phần thuỳ trong não của Einstein rộng hơn 15% so với phần thuỳ trong não của 35 người đàn ông và 50 người đàn bà có trí tuệ bình thường được chọn để nghiên cứu. Bài báo đặc biệt nhấn mạnh rằng khả năng nhận thức về hình ảnh không gian, tư duy toán học và tưởng tượng về chuyển động, tức những nhân tố thiết yếu để phát minh ra Thuyết tương đối, phụ thuộc rất lớn vào phần thuỳ trong não. Thêm một điều đặc biệt nữa: Não của Einstein là trường hợp duy nhất không có đường rãnh “sulcus” ngăn cách phần thuỳ thuộc thái dương (temporal lobe) với phần thuỳ dưới hộp sọ (parietal lobe). Trong não của Einstein, đường rãnh này lại nằm ở một vị trí khác. Các nhà khoa học suy đoán rằng sự vắng mặt đường rãnh tại phần thuỳ có thể cho phép hình thành thêm nhiều neuron thần kinh tại khu vực này, thiết lập nên một kênh thông tin nối liền các phần não với nhau để cùng làm việc chung một cách dễ dàng, tạo ra một khu vực rộng phi thường trên vỏ não có khả năng tổng hợp cao.
Kết quả nghiên cứu nói trên có giải thích được điều gì về thiên tài của Einstein không?
Theo tôi là KHÔNG! Nó chỉ nói lên được một điều, rằng một bộ não có cấu tạo thể chất tốt sẽ có khả năng hoạt động nhạy bén, tức là có chỉ số IQ cao. Nhưng chỉ số IQ và ý thức là hai vấn đề hoàn toàn khác xa nhau. Trong thực tế, có người có chỉ số IQ cao không những không đem lại lợi ích gì cho xã hội mà thậm chí còn làm hại xã hội. Tương tự như một chiếc computer tốt không có nghĩa là nó chứa đựng hoặc đưa ra những thông tin hữu ích.
  Tóm lại, việc giải mã thiên tài của Einstein không thể dựa vào những yếu tố vật chất, vì thực ra ý thức và trực giác của con người là những hiện tượng hoàn toàn phi vật chất. Để hiểu biết bản chất của ý thức và trực giác, phải có phương pháp tiếp cận phi vật chất.

Bản chất của ý thức và trực giác

Loài người đã tiến rất xa trong việc khám phá bí mật của tự nhiên nhưng hầu như chẳng tiến được bước nào trong việc tìm hiểu chính mình. Cho đến nay, khoa học vẫn chưa có một lời giải thích nào thỏa đáng về bản chất của ý thức, cái làm nên giá trị người nhiều nhất, và có thể sẽ không bao giờ có. Tại sao vậy?
Vì khoa học tự trói buộc mình trong thế giới vật chất, trong khi ý thức là một thực tại khách quan phi vật chất, nằm ngoài thế giới vật chất. Không thể dùng vật chất để tác động tới thế giới phi vật chất.
Cụ thể hơn, tôi cho rằng ý thức thuộc một tầng nhận thức cao hơn khoa học. Chẳng hạn, thiền sẽ giúp ta tiệm cận tới bản chất của ý thức. Hoặc các suy niệm tâm linh cũng giúp chúng ta chứng ngộ ý thức là gì. May mắn hơn, nếu chúng ta được mặc khải bởi các lực lượng siêu nhiên. Muốn thế thì điều kiện tiên quyết là phải rũ bỏ cái áo chật hẹp của chủ nghĩa duy vật, cho phép tư tưởng được hoạt động tự do, dựa trên những gì ta có thể cảm nhận được.
Cảm nhận giúp ta khám phá chân lý chứ không phải lý lẽ logic. Không cần phải thuyết phục ai, nếu người ấy không thể hoặc không muốn học hỏi bằng con đường cảm nhận. Charlie Chaplin nói: “Chúng ta tư duy nhiều quá nhưng cảm nhận ít quá” (We think too much and feel too little).
Có những người thích rao giảng khoa học bằng ngôn ngữ hàn lâm khó hiểu. Ấy là vì họ tư duy nhiều quá mà cảm nhận ít quá. Einstein khuyên: “Nếu bạn không thể trình bầy một vấn đề sao cho đơn giản, ấy là vì bạn chưa thấu hiểu vấn đề đó” (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough).
Vậy tôi xin trình bày những gì tôi cảm nhận. Dưới ánh sáng của Định lý Bất toàn của Kurt Gödel và Lý thuyết Thông tin, tôi cho rằng:
● Một, phải khẳng định dứt khoát như Gödel, rằng chủ nghĩa duy vật – hệ tư tưởng cho rằng toàn bộ vũ trụ là vật chất và chỉ có vật chất – là một thế giới quan sai lầm. Lý thuyết thông tin chỉ ra rằng thông tin là một thực tại khách quan phi vật chất, tồn tại độc lập với vật chất. Đây là một kết luận mang tính cách mạng, mở ra một thế giới mới, bao gồm những thực tại phi vật chất. Trong thế giới mới này, những nguyên lý của khoa học vật chất không còn thích hợp nữa. Vì thế, việc đối lập duy vật với duy tâm là một kiểu nhận thức đã lỗi thời. Trong thời đại ngày nay, nên kết hợp mọi dạng nhận thức, miễn là tiếp cận càng tới gần sự thật càng tốt.
● Hai, ý thức là một thực tại khách quan phi vật chất. Ý thức có nhiều đặc điểm của thông tin. Nhiều nguyên lý của thông tin có thể áp dụng để giải thích các hiện tượng thuộc về ý thức. Ý thức có thể là một dạng siêu thông tin.
● Ba, vì mọi thông tin đều có nguồn, nên ý thức cũng có nguồn của nó. Nguồn của ý thức có thể là một lực lượng siêu tự nhiên mà nhân loại từng sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để gọi tên, như Thượng đế, Đấng Tối cao, Chúa, Đấng Sáng tạo, Jehovah, Allah, Phật Đà, Đại Giác Giả, Thần, Bà Mẹ Tự nhiên, Nhà thiết kế vĩ đại… Bộ não của con người không phải là nguồn của ý thức, cũng không phải là cỗ máy sản xuất ra ý thức, mà chỉ là một bộ máy tiếp nhận, xử lý, chuyển giao thông tin.
Thí dụ: Thuyết tương đối là một sản phẩm cao cấp của ý thức. Xét cho cùng nó là một tệp tin (một file) về tự nhiên. Bộ não của Einstein nhận được những thông tin của tệp tin đó, xử lý nó, và chuyển giao cho chúng ta. Câu hỏi đặt ra là tại sao chỉ có bộ não của Einstein nhận được hoặc xử lý được tệp tin đó, mà không phải chúng ta?
Một lần nữa câu trả lời là: TRỰC GIÁC!
Ai cũng thừa nhận có trực giác, nhưng không ai biết bản chất của trực giác là gì. Bản thân Einstein rất nhiều lần nhắc đến trực giác, chứng tỏ ông rất chú ý đến hiện tượng này, rất coi trọng nó, nhưng ông thú nhận rằng ông cũng không biết gì về bản chất của nó. Hãy lắng nghe ông nói.

Tư tưởng về trực giác của Einstein

● “Thứ duy nhất thực sự có giá trị là trực giác” (The only real valuable thing is intuition)
● “Tri thức đóng vai trò thứ yếu trên con đường khám phá. Có một bước nhảy vọt trong ý thức, được gọi là trực giác hoặc gọi thế nào tùy bạn, lời giải đến với bạn mà bạn không biết như thế nào và tại sao… thứ có giá trị thực sự là trực giác” (The intellect has little to do on the road to discovery. There comes a leap in consciousness, call it intuition or what you will, the solution comes to you and you don’t know how or why… the truly valuable thing is the intuition).
albert-einstein-physicist-there-is-no-logical-way-to-the-discovery-of-these● “Tôi tin vào trực giác và cảm hứng… Những lúc đó tôi cảm thấy chắc chắn tôi đúng mặc dù không hiểu tại sao” (I believe in intuition and inspiration… At times I feel certain I am right while not knowing the reason).
● “Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng và tư duy lý lẽ là một tên đầy tớ trung thành. Chúng ta đã tạo ra một xã hội vinh danh tên đầy tớ và bỏ quên món quà tặng” (The intuitive mind is a sacred gift and the rational mind is a faithful servant. We have created a society that honors the servant and has forgotten the gift).
● “Không có con đường logic để khám phá ra những định luật cơ bản này. Chỉ có duy nhất con đường của trực giác, được trợ giúp bởi một cảm giác về cái trật tự nằm đằng sau vẻ bề ngoài” (There is no logical way to discover of these elementary laws. There is only the way of intuition, which is helped by a feeling for the order lying behind the appearance).
● “Một ý tưởng mới thình lình xuất hiện và đúng ra là theo cách trực giác, nhưng trực giác chẳng là gì ngoài kết quả của những trải nghiệm trí thức trước đó” (A new idea comes suddenly and in a rather intuitive way, but intuition is nothing but the outcome of earlier intellectual experiences).
● “Điều ấy xẩy đến với tôi nhờ trực giác, và âm nhạc là động lực đằng sau trực giác. Khám phá của tôi là kết quả của nhận thức âm nhạc” (It occurred to me by intuition, and music was the driving force behind that intuition. My discovery was the result of musical perception)
Đọc những ý kiến của Einstein, tôi nghĩ ông không chỉ là một thiên tài khoa học, mà còn là một nhà hiền triết thâm thúy và sâu sắc. Tôi ghét triết lý sách vở bao nhiêu thì yêu thích những triết lý thiết thực bấy nhiêu. Triết lý của Einstein về trực giác là những triết lý rất thiết thực, làm sáng tỏ nhiều mảng tối trong nhận thức, đáng để cho người đời suy ngẫm và học hỏi.

Bình luận của PVHg’s Home về trực giác

● Einstein nói “Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng…”. Vậy đó là quà tặng của ai? Nếu quà tặng đó là thiêng liêng thì người tặng hoặc nguồn tặng ắt phái rất cao quý, siêu nhiên. Tại sao Einstein không nói rõ? Phải chăng ông tế nhị, tránh va chạm với những người vô thần, vốn rất đông xung quanh ông trong giới khoa học nửa đầu thế kỷ 20?
Như trên đã nói, để mở rộng hiểu biết, ta phải cởi bỏ chiếc áo chật hẹp của chủ nghĩa duy vật, vậy tôi xin mạn phép “làm đầy đủ” câu nói của Einstein như sau:
Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng của Tạo Hóa / Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng của Thần…
Người Đông phương thường nói trực giác là cái năng khiếu Trời phú cho. Ta không thấy Ông Trời ở đâu cả, nhưng ta tin có Ông Trời phú cho ta nhiều năng khiếu khác nhau. Tổ tiên chúng ta nói thế, không lẽ tổ tiên chúng ta bịa đặt ư? Người vô thần cũng thường sử dụng chữ “thiên tài” để ca ngợi những tài năng đặc biệt mà họ ngưỡng mộ và tôn kính. Nhưng “thiên tài” là gì nếu không phải là tài năng Trời phú? Vậy cớ sao lại nói không có Ông Trời, không có Thượng Đế. Có người biện bác nói rằng Đức Phật nói không có Thượng đế. Theo tôi, những người này nói sai. Đức Phật không nói thế. Xin các nhà nghiên cứu về Phật giáo lên tiếng.
● Einstein phàn nàn rằng chúng ta đã tạo ra một xã hội bỏ quên món quà tặng. Đó là một lời phê phán nhẹ nhàng, tế nhị. Nếu nói thẳng, nói mạnh, thì phải nói rằng chủ nghĩa duy vật thô thiển đã tước bỏ vai trò của Đấng Sáng tạo, do đó không đề cao vai trò của trực giác. Điều này biểu hiện rõ nhất trong nền giáo dục hiện đại. Phương pháp giáo dục bây giờ nặng về nhồi nhét tri thức, tức là coi trọng “tên đầy tớ”, trong khi sao nhãng hoặc thiếu khả năng đánh thức người học, không biết kích thích trực giác, tức là bỏ quên “quà tặng thiêng liêng”. Kurt Gödel có ý nghĩ gần như Einstein, nhưng nói một cách thẳng thắn hơn, mạnh mẽ hơn, bộc trực hơn: “Chủ nghĩa duy vật là sai lầm” (Materialism is false).
Tóm lại, nếu thừa nhận trực giác tồn tại, thì không thể không thừa nhận sự hiện hữu của Thần. Bởi trực giác chính là quà tặng thiêng liêng của Thần.
● Nếu trực giác là thứ duy nhất thực sự có giá trị (mà tôi tin đúng là như thế) thì mọi thứ bằng cấp danh hiệu đều chỉ là những thứ trang sức phù phiếm. Bằng cấp là thước đo tri thức (vinh danh tên đầy tớ), chủ nghĩa bằng cấp và thói háo danh là một biểu hiện của sự vô minh của con người, bởi nó không ý thức được rằng thứ duy nhất có giá trị thực sự là trực giác, quà tặng thiêng liêng của Đấng Sáng tạo.
● Không nên nhầm lẫn khái niệm trực giác với sự suy diễn bề ngoài. Chẳng hạn, quan niệm về biến dị và di truyền của Darwin không xuất phát từ trực giác, mà xuất phát từ suy diễn. Darwin trông thấy những biến đổi nhỏ trong thế giới sinh vật, rồi suy diễn ra rằng những biến đổi nhỏ ấy tích tụ dần trong một thời gian dài hàng trăm triệu năm hoặc hàng tỷ năm để trở thành những biến đổi lớn, biến loài này thành loài khác, tức là tiến hóa. Câu chuyện về cái cổ của hươu cao cổ là thí dụ điển hình cho kiểu suy diễn của Darwin. Nếu phải biện hộ cho Darwin thì có một cách tiện lợi nhất, ấy là đổ hết các sai lầm cho Lamarck, vì thực tế là Darwin đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi quan niệm di truyền sai lầm của Lamarck. Thật vậy, sai lầm vô cùng lớn của Lamarck là ở tư tưởng cho rằng những biến đổi do ngoại cảnh đem lại (biến đổi không bẩm sinh) có thể di truyền cho các thế hệ sau. Thí dụ: Một động vật nào đó chẳng may bị cụt một chân, thì sự biến đổi này có thể di truyền cho thế hệ sau, thông qua đường máu. Darwin đã tiếp thu tư tưởng di truyền sai lầm đó, để từ đó tạo nên lý thuyết chọn lọc tự nhiên – sinh vật có xu hướng chọn lọc những biến dị có lợi, để rồi biến dị ấy được di truyền cho đời sau, tích tụ qua nhiều đời thành một biến đổi lớn. Giới tiến hóa ngày nay đánh lận con đen, gọi những biến đổi trong loài là vi tiến hóa (micro-evolution), và biến đổi lớn, tức biến đổi từ loài này thành loài khác, là tiến hóa vĩ mô (macro-evolution). Thực tế hoàn toàn không có tiến hóa nào cả, dù là vĩ mô hay vi mô. Cái gọi là “vi tiến hoá” chỉ là cách chơi chữ, đặt tên để cứu vãn thuyết tiến hóa. Thực tế đó chỉ là sự biến đổi trong loài, và không hề có sự tiến bộ nào trong những biến đổi này để gọi đó là vi tiến hóa.
● Không nên nhầm lẫn khái niệm trực giác với trí tưởng tượng. Thí dụ, tư tưởng cho rằng sự sống có thể hình thành từ vật chất không sống, mà trong sinh học gọi là lý thuyết sự sống hình thành tự phát (spontaneous generation), là một sự tưởng tượng 100%. Chẳng hạn từ một xác động vật chết ta thấy xuất hiện dòi bọ. Trí tưởng tượng của người Hy Lạp cổ đại cho rằng dòi bọ đã ngẫu nhiên hình thành từ không khí xung quanh xác động vật chết. Trong thế kỷ 19, Louis Pasteur đã chứng minh rằng trí tưởng tượng đó hoàn toàn sai, và ông khẳng định sự sống chỉ có thể ra đời từ sự sống. Đó là định luật nguồn gốc sinh học của sự sống (biogenesis). Nhưng thuyết tiến hóa vẫn tiếp tục theo đuổi lý thuyết sự sống hình thành tự phát, họ biến lý thuyết này thành giả thuyết “nồi soup nguyên thủy”, hay còn gọi là lý thuyết về nguồn gốc sự sống, thậm chí khoác một cái tên kêu hơn, đó là “thuyết tiến hóa hóa học” (chemical evolution). Thực chất, đây là sự ngụy biện cho một trí tưởng tượng ngây thơ từ thời cổ đại.
● Tất cả các nhà khoa học có những đóng góp thiên tài đều có trực giác thiên tài và đều thừa nhận vai trò quyết định của trực giác trong sáng tạo khoa học.
Blaise Pascal gọi trực giác bằng một cái tên văn chương hơn, đó là “lý lẽ của trái tim” (la raison du Coeur). Ông tuyên bố: “Trái tim có những lý lẽ mà lý lẽ chẳng hiểu gì cả” (Le coeur a ses raisons que la raison ne connait point). Pascal không chỉ có trực giác khoa học thiên tài, mà còn có trực giác tâm linh sâu sắc [để biết rõ điều này, xin đọc “Lửa của Pascal” trên PVHg’s Home ngày 16/12/2013]. Với trực giác đó, ông có một đức tin tôn giáo mạnh mẽ, đến nỗi ông cho rằng ai không có đức tin sẽ vô cùng thiệt thòi. Ông nói : « Nếu Chúa không tồn tại, thì dẫu sao bạn cũng chẳng mất gì khi tin Ngài; nhưng nếu Chúa tồn tại, bạn sẽ phải chịu mất tất cả nếu không tin Ngài » (If God does not exist, one loses nothing by believing in Him anyway; While if God exists, one stands to lose everything by not believing). Ông cho rằng biết có Chúa chưa đủ. Phải yêu kính Chúa mới thật sự là có đức tin. Ông nói: “Từ chỗ biết Chúa đến chỗ yêu kính Chúa vẫn còn quá xa” (The knowledge of God is very far from the love of God). Lấy tiêu chuẩn của Pascal làm thước đo, ta có thể nhận xét rằng Einstein tuy có trực giác siêu việt về thế giới vật chất – toàn bộ thế giới vật chất đã được ông tóm gọn trong công thức E = mc2 – nhưng trực giác tâm linh còn thấp. Thật vậy, Einstein tin có Đấng Sáng tạo nhưng không có tinh thần yêu kính Thần.
Henri Poincaré, một trong những nhà toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại, người từng được mệnh danh là “con quỷ toán học” và “Mozart của toán học”, xác định rất rõ vài trò tiên phong của trực giác trong sáng tạo qua tuyên bố sau đây: “Nhờ logic ta chứng minh, nhờ trực giác ta khám phá” (C’est par la logique que nous prouvons; c’est par l’intuition nous inventons).
Louis Pasteur, người có trực giác thiên tài khi tiên đoán rằng tính bất đối xứng (thuận tay trái) là đặc trưng của sự sống. Sau hơn một thế kỷ rưỡi kể từ khi ông nêu lên nhận định đó, toàn thể giới sinh học đều thừa nhận đó là một định luật của sự sống. Thậm chí ông còn muốn khái quát định luật đó cho toàn bộ vũ trụ, rằng vũ trụ là bất đối xứng. Ông lấy làm tiếc đã không tiếp tục phát triển tư tưởng này đến mức hoàn chỉnh. Hết sức bất ngờ, vật lý hiện đại cũng đi tới kết luận vũ trụ bất đối xứng. Tôi sẽ trình bày vấn đề này trong một dịp khác.
Giới tiến hóa trong thâm tâm rất ghét Pasteur, một phần vì ông là người có tư tưởng tôn giáo sâu sắc, phần khác vì các định luật của ông tự động bác bỏ thuyết tiến hóa. Nhưng họ không có cách nào chống lại định luật sự sống thuận tay trái. Chừng nào không giải thích được tại sao sự sống thuận tay trái thì chừng ấy thuyết tiến hóa sẽ không thể chứng minh được nguồn gốc sự sống. Tuy nhiên Pasteur nhắc nhở chúng ta rằng: “Trực giác chỉ đến với những ai đã dày công chuẩn bị để đón nhận nó” (Intuition is given only to him who has undergone long preparation to receive it). Không thể có trực giác toán học nếu bạn không say mê toán học đến mức hiến dâng sức lực cho nó, thậm chí hiến dâng cuộc đời cho nó. Làm sao có thể có một thiên tài âm nhạc không dâng hiến cuộc đời cho âm nhạc?
● Không chỉ vĩ nhân mới có trực giác. Tất cả chúng ta đều có trực giác, chỉ khác nhau ở mức độ và thiên hướng mà thôi. Có người có trực giác mạnh trong âm nhạc, có người có trực giác mạnh trong toán học,… Kinh tế là lĩnh vực đòi hỏi trực giác rất cao. Nhiều người học hành ít nhưng có trực giác cực kỳ nhạy bén về làm ăn lỗ lãi mà các tiến sĩ kinh tế học không có. Nếu so sánh hai giới, ta thấy dường như phụ nữ có thiên hướng tư duy trực giác nhiều hơn, nam giới có xu hướng tư duy lý trí nhiều hơn, do đó phụ nữ tình cảm hơn và thực tế hơn, nam giới lý luận và viển vông hơn.
6 copyMarilyn Monroe, cô đào điện ảnh nổi tiếng nhất thế kỷ 20, đã nói thay mọi phụ nữ, rằng “Phụ nữ nhận thức bằng trực giác, hoặc bản năng, cái tốt nhất đối với cô ta” (A woman knows by intuition, or instinct, what is best for herself). Vì thế trong nhiều trường hợp, phụ nữ cảm nhận được sự thật nhanh hơn nam giới, hoặc chính xác hơn nam giới. Điều này hoàn toàn trái với quan điểm của Darwin cho rằng phụ nữ kém tiến hóa so với nam giới. Vì thế, mỗi người nên biết rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình để hợp tác với cộng đồng, tạo nên một xã hội vững mạnh. Một xã hội tốt là xã hội biết tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy được điểm mạnh của mình và cùng hợp tác với nhau, bổ sung cho nhau làm nên một xã hội văn minh và tiến bộ. Vì thế, đề cao quy luật đấu tranh sinh tồn là phản lại xã hội, chống lại con người.

● Trong sáng tạo văn học nghệ thuật, trực giác đóng vai trò cốt yếu đến mức có thể đưa ra một lời khuyên rằng nếu bạn không có trực giác trong lĩnh vực này thì bạn không nên bước vào đó. Trực giác ở mức thấp có thể gọi là năng khiếu. Cao hơn, trực giác có thể tạo ra những khoảnh khắc ngẫu hứng thần kỳ. Trong tiểu sử Ludwig Van Beethoven, tôi nhớ nhất một chi tiết kể rằng, tại một salon quý tộc, Beethoven đã lật ngược một bản nhạc mà trước đó một danh cầm người Pháp vừa biểu diễn. Ông chơi câu đầu tiên của bản nhạc lật ngược đó, tất nhiên đó là một dãy nốt rất vô nghĩa, nhưng từ một chủ đề vô nghĩa ấy, ông bắt đầu biến tấu, sáng tác, vừa chơi vừa sáng tác, vừa chơi vừa biến hóa, thành những nét nhạc kỳ diệu, trước sự kinh ngạc của đám khách khứa có mặt. Hầu như tất cả các nhạc sĩ lớn như Mozart, Beethoven, Chopin,… đều có khả năng sáng tác và biểu diễn ngẫu hứng như thế. Những nghệ sĩ biểu diễn đoạt các giải thưởng âm nhạc quốc tế như Tchaikovsky, Chopin,… cũng là những người có trực giác âm nhạc rất nhạy bén, nhưng có lẽ không thể so sánh với các nhạc sĩ sáng tác bậc thầy. Điều này giới âm nhạc biết rõ hơn ai hết.
Giới biểu diễn sân khấu cũng đòi hỏi những phút ngẫu hứng xuất thần. Nếu phải bỏ phiếu bầu một nghệ sĩ vĩ đại nhất của mọi thời đại, tôi không cần đắn đo mà bầu ngay Charlie Chaplin. Chỉ cần một “Ánh đèn sân khấu” (Limelight) của ông là đủ để thấy cái vĩ đại đó. Đó là một câu chuyện cảm động rớt nước mắt nhưng đầy chất nhân bản, chan chứa tình người, tình yêu thương, đem lại cho ta một niềm hy vọng vào cái Thiện, cái Đẹp trong cuộc sống, khuyến khích ta đứng thẳng người lên để sống. Những đoạn hội thoại đầy ắp triết lý nhân sinh. Âm nhạc tha thiết, da diết, thanh khiết, gợi lên một thế giới thanh cao để vươn tới. Khó có giai điệu nào đẹp hơn thế nữa. Ông Calvero trong phim (chính là Chaplin) chơi violin hay đến mức tôi tưởng đó là Nicolo Paganini sống lại. Tất cả đều do Chaplin – một mình ông kiêm tất cả các vai trò quan trọng nhất của một bộ phim: đạo diễn, tác giả kịch bản, diễn viên chính, tác giả nhạc phim, người chơi nhạc cho phim. Nếu không phải là một thiên tài do Thần tạo ra, liệu có thể có một người chịu khó học hành để thành tài như thế không? Vậy mà Chaplin cũng chỉ được trao tặng một Giải Oscar cho toàn bộ sự nghiệp. Suy ra rằng các giải thưởng chỉ phản ánh được một phần nào sự thật mà thôi. Chỉ có những ai biết rõ tài năng là gì, trực giác là gì, thế nào là một món quà của Thần, thế nào là một quà tặng thiêng liêng,… chỉ những người ấy mới biết thưởng thức giá trị của các tài năng.
trực giácĐể kết phần này, tôi xin trích ý kiến của một diễn viên điển ảnh nổi tiếng trong thấp kỷ 1950-1960. Đó là Ingrid Bergman. Bà nói: “Bạn phải rèn luyện trực giác của bạn – bạn phải tin vào tiếng nói nhỏ nhẹ bên trong bạn, nó nói với bạn một cách chính xác nên nói gì, quyết định gì” (You must train your intuition – you must trust the small voice inside you which tells you exactly what to say, what to decide).

Thay lời kết

Xem thế thì thấy nhà khoa học chân chính và nghệ sĩ chân chính rất giống nhau: họ đều có trực giác nhạy bén để khám phá ra chân lý, cái đẹp và cái thiện. Một cách tổng quát, ta có thể thấy Thuyết Tương đối của Einstein là một tác phẩm nói về Cái Đẹp của Tự nhiên. Cái đẹp ấy không chỉ biểu lộ ở công thức toán học rất đơn giản, cân đối và gọn đẹp của ông, mà còn ở tư tưởng toát ra từ lý thuyết ấy – một tư tưởng bao trùm vũ trụ, giống như một bức tranh hoành tráng mô tả vũ trụ. Ai từng có niềm đam mê ngắm bầu trời đầy sao đều có thể đam mê thưởng thức Thuyết Tương đối Tổng quát, bởi bản chất Cái Đẹp là Một.
Và thú vị thay khi ta thấy Albert Einstein, một bậc kỳ tài trong thiên hạ, lại tỏ ra mến phục và ngưỡng mộ Charlie Chaplin đến mức xin gặp Chaplin bằng được. Chaplin đã nhận lời và hai ông đã gặp nhau. Chaplin đưa Einstein đến phim trường của ông để tham quan. Trên đường đi, Einstein nói với Chaplin: “Ông là một người vĩ đại, vì đã sáng tạo ra những câu chuyện cười ra nước mắt mà ai cũng hiểu”. Chaplin đáp: “Ông cũng là một người vĩ đại, vì đã sáng tạo ra những phương trình không ai hiểu nổi”.
5Câu chuyện trên có nhiều dị bản. Dị bản sau đây có lẽ gần với sự thật hơn, và thú vị hơn:
Einstein: “Điều tôi ngưỡng mộ nhất về nghệ thuật của ngài là ở chỗ ngài không nói một lời nào, ấy thế mà… toàn thế giới hiểu ngài” (What I admire most about your art is that you do not say a word, and yet… the world understands you).
Chaplin: “Đúng thế… nhưng danh tiếng của ngài còn lớn hơn. Toàn thế giới ngưỡng mộ ngài trong khi không ai hiểu ngài” (It’s true… but your fame is even greater. The world admires you, when nobody understands you).
Nhưng dù sự thật chính xác là như thế nào thì hai bậc kỳ tài đó đã gặp nhau – hai tư tưởng lớn gặp nhau. Một người hướng ra vũ trụ ngoài tự nhiên, một người hướng vào vũ trụ trong lòng người, nhưng cùng được nhận món quà thiêng liêng của Thượng đế, thứ duy nhất thực sự có giá trị, đó là TRỰC GIÁC!
Chúc bạn có một trực giác tuyệt vời để thưởng thức Cái Đẹp của vũ trụ cũng như Cái Đẹp trong tâm hồn con người!
Tác giả: Phạm Việt Hưng,  viethungpham.com.