Trang

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

NHỮNG LỜI TÂM HUYẾT CỦA NGƯỜI NAY ĐÃ ĐI XA

Nhân dịp sinh nhật lần thứ 85 của Luật sư Trần Lâm, ngày 10 tháng 6 năm 2019, tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang có bài viết " CHIA HAI LÀ NHÂN ĐÔI "  nhắc lại những ý kiến của LS Trần Lâm người vừa qua đời . Tôi muốn đăng lại những ý kiến này xin mời mọi người đọc tin chắc sẽ được hoan nghênh. 


Luật sư Trần Lâm (tên thật là Trịnh Đình Trung) sinh ngày 10 tháng 6 năm 1925. Vậy là cụ đã cùng trái đất quay được 85 vòng quanh mặt trời.
Sinh tại Nho Quan, Ninh Bình, nhưng cụ đã từng tham gia Ban Tuyên huấn tỉnh bộ Việt Minh Lạng Sơn, làm trưởng ty Thông tin Tuyên truyền tại Hải Phòng và Hồng Quảng từ năm 1950-1951 và được bổ nhiệm làm giảng sư chính trị trung cao cấp chính ngạch từ năm 1962. Vậy là cụ đã từng đi tuyên truyền huấn luyện chủ nghĩa Mác ở Việt Nam từ rất sớm và là một đảng viên cộng sản kỳ cựu.
Vậy mà, gần đây người ta thấy cụ cứ tha thiết đòi “phá” Đảng, đòi tách ĐCSVN làm hai.
Sinh thời, khi bị những người chống “diễn biến hòa bình” quy kết bậy bạ, ông Trần Đại Sơn đã phản ứng một cách hóm hỉnh: “Nếu chúng tôi không ‘chống’ thì Đảng này đổ lâu rồi”. Chẳng nhẽ các cụ ngụy biện?
Luật sư Trần Lâm thì giải thích:
“Trên cơ sở tình hình thực tiễn, để tiến lên, sau khi rà soát các hình thức chỉ còn đọng lại một ý tưởng tha thiết là phải tách ĐCSVN ra làm hai. Làm như thế thì có thể bề ngoài giữ được ổn định, bề trong thì âm thầm cải tiến, có thể gạt bỏ dần những quan điểm sai lầm, những lề lối lạc hậu và có thể phá tan được mối quan hệ nhân sự đồi bại của các liên minh ma quỷ.
Cho nên cần phải có những biện pháp phù hợp, vì một ý tưởng dù tốt đến mấy nhưng việc thực thi không đúng đắn cũng không thể mang lại kết quả mong muốn.
Tách ra không phải bày ra quân xanh quân đỏ, ngày thì tranh cãi, tối thì bàn nhau chia chác.
Tách ra không phải giữ nguyên những con người ăn bám, gánh nặng của toàn dân.
Tách ra chưa phải mọi sự sẽ suôn sẻ mà chỉ là tạo ra một đột phá chấm dứt độc đoán toàn trị, tiếp cận dần với dân chủ, công khai.
Từ tình hình này tạo ra sự sàng lọc, vai trò cá nhân được đề cao, nhân tài được xuất hiện. Một nền dân chủ phôi thai để dần dần được hoàn thiện.
Tách ra là một biện pháp một chủ trương táo bạo nhưng giữ được ổn định xã hội. Luật pháp giữ nguyên, bộ máy giữ nguyên, mọi hoạt động vẫn bình thường, sự thay đổi sẽ từ từ theo một chiến lược rõ ràng từ toàn trị sang đa nguyên đa đảng là một sự tiệm tiến lấy nâng cao dân trí làm gốc”.
Cụ háo hức kỳ vọng:
“Chuyển đổi thành hai Đảng chúng ta được rất nhiều:
Khi kết nạp lại, bao nhiêu người vì lý do không chính đáng mà vào Đảng, vào bộ máy Nhà nước sẽ lặng lẽ không xin kết nạp lại. Thế là việc chính của chỉnh đốn Đảng đã được thực hiện. Thời cơ vàng để Đảng ta trở nên trong sạch.
Hai Đảng cùng kết nạp thêm người mới, đó là sự thay máu làm cho Đảng khỏe khoắn, tươi trẻ, bừng bừng sức sống. Một việc mười năm không làm được, khoảnh khắc đã làm xong”.
“… ở đâu cũng có đảng viên của hai Đảng, họ được hướng dẫn để hợp tác cùng nhau nhưng lại giám sát lẫn nhau, từ đó luật pháp được đề cao, công bằng được thực hiện, phẩm giá con người được tôn trọng. Lúc ấy nghĩ lại họ sẽ thấy xấu hổ, không hiểu sao ngày qua họ lập lờ hai mặt, họ gian trá che đậy, họ khúm núm sợ sệt mà lại hách dịch và vụ lợi.
Trong không khí đổi mới ấy, người có tài năng, có đạo đức sẽ trở nên khác xưa. Họ có lòng tin, họ sẽ xin tham gia vào các hoạt động chung. Sức mạnh của hai Đảng cùng mạnh lên. Đất nước do đó sẽ phồn vinh”.
“Đảng tách ra làm hai là Đảng vẫn còn, Đảng chấm dứt độc tài, độc đoán, độc quyền chân lý… Đảng sẽ là đảng của dân tộc, của nhân dân một cách đích thực. Đảng mạnh lên, đất nước phồn vinh, dân tộc có chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng quốc tế”.
Đầu đề nghe như nghịch lý của bài viết này chính vì xuất phát từ những kỳ vọng lạc quan trên.
Điều lý thú là, chính do đã trải nghiệm qua bao nhiêu dằn vặt xót xa, người đảng viên kỳ cựu của ĐCSVN này nhờ tọa thiền trên những nỗi bi quan cay đắng đối với Đảng của mình mà quán tưởng được con đường đi tới những kỳ vọng lạc quan cho Đảng.
Trần Lâm từng trải nghiệm bao dằn vặt xót xa khi phải kêu lên: “Có người cho rằng không còn ĐCS, chỉ có Đảng của những người cầm quyền! Họ thuộc giai cấp nào? Họ thuộc ‘giai cấp cầm quyền’! Họ sở hữu gì? Họ sở hữu quyền lực! Họ sản xuất kinh doanh gì? Họ kinh doanh quyền lực! Ngành nghề cụ thể? Xoay sở đất đai, mua bán côta, mở các dự án, chạy tội, chạy việc ! Vốn của họ? Vốn vô hình, nhưng lãi vô kể!”
Cụ phóng bút như một họa sĩ: “Đảng ta như một kỵ sỹ mệt mỏi; bộ máy Đảng và Nhà nước thì như con ngựa bất kham, què quặt. Trong tay kỵ sỹ có bản vẽ chỉ đường nhưng xem mãi vẫn thấy như không phù hợp với thực địa. Trời thì đã về chiều, làm sao về đích được trước khi trời tối!”
Viễn cảnh càng khủng khiếp hơn: “… nay Đảng như một ‘Achile mới’, moi đất ở dưới chân mình, mỗi ngày một tý, và càng ngày cái hàm ếch càng sâu hơn, rộng hơn… sự nguy hiểm càng gõ cửa…, dẫu rằng trước đây Đảng đã từng như Achile, bất khả chiến bại vì bàn chân để trên Đất Mẹ, đó là Nhân dân.”
Lắng nghe đâu đó từ quảng đại nhân dân, Trần Lâm loan báo: “Có cái gì như thầm lặng nói lên là Đảng ta tiếp tục cầm quyền là khiên cưỡng; không ai trong nhóm cầm quyền có những tố chất của một chính khách; toàn Đảng hiện nay lỏng lẻo đến mức chỉ còn là những người cầm quyền; bao nhiêu năm vẫn giữ đất nước trong vòng lạc hậu; nếu để tiếp tục cầm quyền thì nhất định nước ta sẽ bị nước ngoài thôn tính…”
“Việc T4 là việc nội bộ Đảng, vụ Biển Đông là việc quốc tế, tham nhũng là việc giữa Đảng và dân. Phải chăng một đảng có 3 mối quan hệ sống còn: Nội bộ Đảng, Đảng và dân, Đảng và quốc tế. Ở các nước, chỉ một việc cũng làm cho đảng cầm quyền ra đi, ta mắc một lúc cả ba”.
Trần Lâm cho rằng Đảng suy thoái là do lãnh đạo suy thoái và không xứng tầm:
“Các vị lãnh đạo như của chúng ta, ở Inđônêxia họ gọi là ‘các viên chức lớn’, thiếu cả những điều kiện của các bậc đi trước, thiếu cả những điều kiện phù hợp với thời đại hiện nay.
Suy cho cùng, cũng không phải là thiếu sót của một ai. Đó là những vấn đề của lịch sử. Tháng 6/2005, ông Hữu Thọ trả lời phóng viên: ‘Trong lịch sử chúng ta, triều đại nào cũng thế, bao giờ Thái Tổ, Thái Tông cũng tuyệt vời, nhưng sau Tổ, Tông thì con cháu bắt đầu hư hỏng, ăn mòn vào cái vốn của ông, cha để lại’. Phải chăng, sau cách mạng và chiến tranh, ta đã ngủ quên quá lâu, cuộc sống mới đã làm ta quên dĩ vãng, một dĩ vãng rất gần. Lề lối làm việc; cách chọn và bồi dưỡng nhân tài, vai trò của ngơời cầm đầu, trách nhiệm trước dân, cơ chế giám sát đều bất cập đã đưa đến tình trạng hiện nay…”
Mà, nguyên nhân suy thoái lãnh đạo lại chính do: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp uỷ viên, từng nhiệm kỳ được bầu lại. Như thế là luật sinh tồn, sự đào thải tự nhiên được tôn trọng. Thế nhưng, các đồng chí đơơng nhiệm lại dự kiến một cách khá chặt chẽ, đến từng người của Bộ Chính trị, của Ban chấp hành mới… Thế là đã già rồi còn sinh đẻ, đứa con là phiên bản của cha mẹ, nó làm sao thông minh, khoẻ mạnh được. Ta không cần nói đến các tiêu cực trong việc sắp xếp, chỉ xét về nguyên lý cũng thấy là sai”.
“Mọi quyền lực thuộc về Đảng. Gọi là Đảng, nhưng thực chất chỉ là những ngơời cầm quyền. Nhóm này nghỉ, giao quyền cho nhóm kế tiếp, nhóm kế tiếp được chọn theo ý muốn của nhóm về nghỉ. Có khi người về nghỉ vẫn chỉ huy đất nước qua đàn em của mình. Đó là một hình thức ‘cha truyền con nối’”.
“Cha truyền con nối”, nhưng khốn nỗi cha nào có ra cha! Trần Lâm thẳng thắn: “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”; “Nhà dột từ nóc”: Người có chức cao, quyền trọng, quá thiển cận, không biết việc làm sai trái của mình sẽ thúc đẩy nhiều người làm theo. Trên thế nào, dưới như thế.” Ông Đỗ Mười, cầm một món tiền lớn của nước ngoài, ai cũng biết, thế nhưng ông vẫn hiện diện ở vị trí người đại diện cao nhất của Đảng ta, nước ta, kể cả ở những ngày lễ lớn nhất, không ít người tỏ ra bức xúc và lo ngại, nghĩ rằng Đảng và Nhà nước không biết có thực lòng chống tham nhũng không?”
“Khao khát một người kiệt xuất, xung quanh là một bộ máy bao gồm những người tài giỏi, hiện đang nóng bỏng trong nhân dân” đang trở nên vô cùng bức thiết và rõ ràng không phải chỉ của Trần Lâm.
Đại hội Đảng lần thứ XI sắp diễn ra, ban lãnh đạo mới sẽ được sắp đặt. Trớ trêu thay, đâu đó lại đang lởn vởn một mối lo: Nước ngoài đang có ý đồ tâng một vị thư lại trong BCT ĐCSVN lên làm Tổng Bí thư. Vị này rất được lòng thiên triều không chỉ vì “lú lẫn” tin vào cái thứ lý luận ngụy biện đã gieo bao tai họa cho dân tộc mình mà còn sẵn sàng cống hiến cả Tổ quốc mình cho ý đồ bá quyền của thiên triều!
Viên thư lại này không được tôi luyện trong thực tiễn đa diện của cách mạng, không được trui rèn qua những va đập khốc liệt của cuộc sống mà chỉ nhờ viết mướn diễn văn cho các cụ rồi được các cụ thổi lên rất thong dong nên rất dễ có tư chất ngây thơ của một cậu ấm hiện đại và tư duy rất dễ bị “định hướng” phi thực tế.
Vì “lú lẫn” nên “Từ sau kháng chiến chống Pháp đến gần đây, ta bị các nước lớn chi phối và lợi dụng. Ta non kém và cả tin. Ta lại du nhập và thực hiện học thuyết sai lầm: Vô sản chuyên chính, đấu tranh giai cấp, lãnh đạo tập thể; lại có luật đất đai là sở hữu của toàn dân, kinh tế quốc doanh là chủ lực. Nạn tham nhũng tràn lan. Tất cả như nhấn chìm chúng ta xuống bùn đen không ngóc đầu lên được”.
“Ta đã trải qua nhiều giai đoạn, với các học thuyết và biện pháp: Không công nhận tư hữu tài sản; đánh đổ tư sản địa chủ; có lúc đổ lỗi cho chiến tranh; có lúc nêu lên cái gọi là giai đoạn quá độ tiến lên XHCN và cuối cùng là thực hiện bao cấp… Đất nước đi đến cùng cực của khủng hoảng toàn diện.
Cuối cùng ta phải chấp nhận: công nhận sở hữu của các thành phần, công nhận kinh tế thị trơờng, do đó đất nước khởi sắc.”
“Nói rằng chúng ta tiếp nhận kinh tế thị trường nên chúng ta chấm dứt được khủng hoảng, đã khởi sắc, là khách quan và đúng đắn. Còn nói rằng ‘đổi mới’ là một sáng tạo, có tính đặc thù Việt Nam thì xem ra như là một vi phạm sở hữu trí tuệ.”
Để góp phần cứu vớt đất nước khỏi sự “lú lẫn” của cái chủ nghĩa tai họa, cái học thuyết ngông cuồng kia, Trần Lâm khiêm tốn khuyến cáo:
“… tôi không dám nói nhiều. Với suy nghĩ nông cạn của tôi, chỉ xin đề xuất 2 việc:
1 – Phải công nhận quyền sở hữu cá nhân về ruộng đất cho nông dân, một cách trọn vẹn.
Làm như vậy sẽ thúc đẩy người nông dân có ý thức, có quyền tự do định đoạt tài sản của mình. Họ có thể đổi ruộng cho nhau để sản xuất thuận lợi; có thể bán, mua theo lợi ích riêng…; họ có thể chung gom để sản xuất lớn, theo lối công ty; người có vốn, có kỹ thuật có thể tự mình mua bán đất, thuê đất để sản xuất quy mô lớn. Quyền sở hữu trọn vẹn đất đai sẽ mở ra một con đường mới, sản xuất lớn, mở rộng cánh cửa để công nghiệp hóa, hiện đại hóa…”
“Nông thôn, nông nghiệp vẫn là nền tảng cuộc sống của đất nơớc ta. Dân số trong nông thôn chiếm hơn 70%. Thế mà mặt này lại thành một góc khuất. Tôi vô cùng băn khoăn vì chưa tìm được một thông tin nào về một quốc gia 70% nhân dân là nông dân, với đơn vị sản xuất là hộ nông dân, đất đai manh mún, kỹ thuật lạc hậu mà có thể tạo được một xã hội dân giàu, nước mạnh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, văn minh, dân chủ…”
2 – … Cho phép người nước ngoài vào kinh doanh nông nghiệp. Đó là người thầy rất tốt cho chúng ta để mở rộng quy mô sản xuất”.
Trần Lâm rất quan tâm đến vấn đề dân chủ hóa xã hội. Khi bàn đến vấn đề dân chủ, ông nhiều lần nhắc đến khái niệm dân chủ của Tổng thống Clinton, nói tại Đại học Thanh Hoa: “Dân chủ là lắng nghe những ý kiến đối lập, cùng nhau bàn bạc để tìm các hành động đúng nhất, cho lợi ích chung và cùng tồn tại bình đẳng”.
Cần kíp thời dân chủ hóa, phải nhanh chóng xóa bỏ toàn trị độc đóan bởi theo Trần Lâm: “Mang cái dân chủ mà trộn với cái toàn trị là kéo rào ngược, là nhét đất thó vào tai vào mắt mọi người, cuối cùng mình làm hại mình.”
Cụ cổ xúy mạnh mẽ những ý kiến bất đồng dám phát biểu công khai một cách có trách nhiệm và đánh giá cao những đóng góp của những con người quả cảm đầy trí tuệ này: “Qua chiêm nghiệm, một số người, trí tụê của họ là ‘dòng sông xanh’, ‘dòng sông hồng’, họ là nhân sĩ Bắc Hà. Họ cho rằng ba mươi năm qua, có cuộc đấu tranh giữa Đảng và dân. Dân không hề có tổ chức, có người cầm đầu, êm ả, bền bỉ đến vô cùng. Đảng cứ ép, dân cứ làm, ép mãi không đơợc đành phải nhả. Dân thắng, Đảng thua là kết luận. Cuộc đấu tranh ‘khoán hộ’ để chống việc hợp tác hoá ép buộc là chiến thắng đầu tiên. Đòi công nhận quyền sở hữu nên Luật Dân sự ra đời. Chống ngăn sông, cấm chợ, đòi tự do kinh doanh nên có Luật doanh nghiệp. Đó là hai chiến thắng tiếp theo”.
Tuy nhiên, cụ không thể không ngậm ngùi, chua xót: “Tôi bị bất ngờ: cùng một lúc nhiều người mà Đảng coi là tinh hoa, là tiêu biểu cho nền tư tưởng, văn hóa xã hội chủ nghĩa, đều lên tiếng phỉ báng Đảng. Có người đốt tác phẩm rồi nhịn ăn mà chết. Có người quên hết mình đã có những gì mà chỉ nhớ bài thơ, bài hát đầu đời khi chưa biết Đảng. Có người sau 30.4 gặp lại bạn văn thời xưa đã khóc mà nói là mình đã đóng kịch bao năm… Tóm lại họ tự nhân mình là ‘văn nô’. Trần Đức Thảo thì ra đi trong đau khổ; Nguyễn Khắc Viện thì giữ khoảng cách đầy kiêu hãnh; còn Nguyễn Mạnh Tường thì lạnh lùng rời bỏ. Họ là người được thế giới ngưỡng mộ, nhân dân yêu mến”.
“Cụ Tô Hoài theo Đảng, lúc Tây Bắc, lúc đồng bằng, ca ngợi Đảng hết lời, đột nhiên cho ra ‘Ba người khác’. Nếu cụ còn loại này, xin cụ kịp thời cho ra mắt bạn đọc để Đảng ghét cụ, cụ qua đời sẽ lờ cụ đi, mọi người sẽ đưa cụ đi an nghỉ nơi có côn trùng nỉ non, có hoa có lá, có trời xanh nước biếc và sẽ để bên cụ ‘Dế Mèn phiêu lưu ký’. Nếu cụ chậm chạp, Đảng vẫn mến mộ cụ, cụ mất, sẽ đưa cụ vào Mai Dịch, rồi con cháu cụ xuất bản di cảo; lúc ấy các vị nằm quanh cụ sẽ đánh đòn ‘hội chợ’ cụ và mọi người sẽ cười cả Đảng, cả cụ, một trận cười vỡ bụng”.
Tôn trọng những ý kiến khác biệt và thực tiễn đa nguyên, Trần Lâm khẳng định: “Việc thiết lập thể chế đa đảng, là việc làm không thể đừng được. Ta hiện nay suy thoái nặng nề không lối thoát, còn có con đường nào khác đâu. Cả thế giới một đường, một mình ta một hướng thì quả thật là quá lạ, mà cái hướng của ta lại mù mờ, ngay trong nội bộ cũng không thông suốt. Thiết lập thể chế đa đảng là việc làm sáng suốt, một lựa chọn đúng đắn”.
Tuy nhiên, trên cơ sở nhận định rằng: “Đòi hỏi đa đảng lúc này là phi thực tế, ta chưa có đảng phái nào có thực lực, thực lực có nghĩa là có cơ sở rộng, có bộ máy lãnh đạo, có đường lối rõ ràng, có những hoạt động cụ thể hàng ngày, và quan trọng là phải có một số người ủng hộ và tham gia”, Trần Lâm chủ trương nâng vai trò quyền lực tối cao của Quốc hội đặng có thể đủ năng lực và thẩm quyền giám sát Đảng trên cơ sở quan niệm rằng:
“Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao. Quyền lực là do dân giao, không ai ban phát. Quốc hội có phe cánh, cùng nhau đấu tranh, cùng nhau hợp tác, trên cơ sở chân lý. Nếu chưa thuyết phục thì có thể có trơng cầu dân ý. Tranh chấp trong Quốc hội là công khai, cạnh tranh lành mạnh, đó là động lực của sự phát triển…”
“Đảng vẫn ở cương vị lãnh đạo quốc gia, điều 4 Hiến pháp vẫn tồn tại. Các đại biểu gọi là ‘dân cử’ này, họ không hình thành tổ chức, hoạt động riêng lẻ, họ chỉ có nhiệm vụ đề đạt nguyện vọng nhân dân, giám sát, phản biện mà quan trọng nhất là chống lại sự lạm quyền của các cơ quan quyền lực. Cái khác nữa là họ không bị ràng buộc gì với Đảng cầm quyền, họ hành động theo ý thức công dân.”
“Quốc hội là sản phẩm của cách mạng dân chủ tư sản. Quốc hội là nơi các đảng phái đấu tranh để giành quyền lực, đồng thời cùng nhau hợp lực phát triển đất nước, theo đường lối thể hiện trong Hiến pháp”.
Trên cơ sở quan niệm về quốc hội như vậy, căn cứ vào tình hình hiện nay, Trần Lâm khẳng định chủ trương: “Việc lúng túng, tranh cãi hiện nay xuất phát từ cái gốc: ta du nhập một thể chế của đa đảng lại muốn biến hoá phù hợp với nền chính trị độc đảng. Hiện nay, cách giải quyết tốt nhất là giao cho Quốc hội một phần thực quyền, tạo ra một đối trọng”.
Đối với nước bạn láng giềng phương Bắc cụ có cái nhìn khách quan và tỏ ra nể trọng: “Dù chỉ tiếp cận sơ qua, ai cũng thấy Trung Quốc thật đáng ngưỡng mộ: người đông vô kể, đất rộng như vô tận, thiên nhiên hùng vĩ và kỳ thú, những công trình xây dựng cũ mới thì đều đồ sộ đến mức khó ngờ. Sách nhiều vô kể, nội dung hay đến mức để đời. Qua lịch sử, khi loài người còn mông muội, Trung Quốc đã có nhiều phát minh… Mấy chục năm nay, như có chiếc đũa thần, Trung Quốc vụt lên giàu có, nhiều ngành khoa học đạt mức thế giới, quân sự bùng phát. Trung Quốc như đang thách thức, như đang tranh giành ngôi đầu bảng thế giới”.
Tuy nhiên, cụ phản đối mạnh mẽ nếu quá tâng bốc: “Trung Quốc hình như đã đi quá đà: thế kỷ 19 là của Anh, thế kỷ 20 là của Mỹ, thế kỷ 21 là của Trung Quốc, nhiều người nói thế và các dấu hiệu đã có. ‘Trung Quốc là con hổ ngủ’, điều này khi tôi còn nhỏ đã được nghe, có đến gần 100 năm rồi nhưng vội nói rằng có thể chiếm Việt Nam trong 31 ngày, có thể đánh chiếm Ấn Độ và diệt cả Mỹ… rồi đòi chia đôi biển Thái Bình Dương với Mỹ lấy Hawai làm mốc… Nói thật hay hù dọa. Tôi tin là đã sa đà vào thế đang lên thành ra ngoa ngôn”.
Lại nữa, thực tế cả từ hiện tại lẫn lịch sử buộc cụ phải khẩn thiết cảnh báo: “Cái sợ hãi hơn là sợ não trạng con người Trung Quốc. Xem trong chuyện cổ, nhiều nghìn năm trước đến giờ, biết bao nhiêu gương mặt gian ngoan, mưu lược. Phụ nữ lại còn ghê gớm hơn, ngay cuối thế kỷ 20 mà Giang Thanh còn mưu mô làm Vua bà nước Tàu… Các nhà phân tích kết luận: khi nàoTrung Quốc mạnh là Trung Quốc bành trướng. Bây giờ Trung Quốc đang muốn xuống Phương Nam. Cái cửa cần mở là Việt Nam, mà Việt Nam lại là cái gai khó gỡ”.
Cụ trầm ngâm truy vấn: “Việt Nam có đường dây 500 KV, có đường Hồ Chí Minh… và cái gì cũng thấy ‘nhất’ Đông Nam Á. Ta không có đủ tiền, không có kỹ thuật; lúc ấy Trung Quốc xui làm gấp, cho vay tiền, chẳng lẽ mình từ chối. Thế rồi người Trung Quốc đưa phong cách Trung Hoa vào, rồi người ta vận dụng câu nói của Tôn Văn: ‘Ở đâu có dấu ấn văn hóa Trung Hoa là đất đai của Trung Quốc’ – Ta mất hay còn? Không hiểu sao Myanmar cũng thân Trung Quốc thì thủ đô lại đi vào xóm núi. Việt Nam cũng thân Trung Quốc thì thủ đô lại mở rộng gấp 4 lần. Hay là người ta muốn Việt Nam: thiếu hụt bối rối và hỗn loạn”.
Và thảng thốt: “… hiện nay Trung Quốc thâm nhập vào nền kinh tế Việt Nam, thâm nhập bằng cả quyền lực chính trị. Nếu như họ lại có trong tay các nhóm lợi ích hay là các nhóm lợi ích hai bên kết hợp với nhau thì có lẽ nền kinh tế Việt Nam đi đứt.”
“Từ Trung Quốc xây dựng 6 tuyến đường bộ đi qua các nước: Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam… Sẽ chuyển hoá các trục này từ hành lang giao thông thành hành lang kinh tế; phát triển rộng khắp 6 tuyến, liên kết với nhau, liên kết với các nước ven đường. Rồi tổ chức các tuyến này theo một thể thống nhất ‘Nhất thể hoá’. Từ các tuyến này hội nhập các nền kinh tế tại chỗ. ‘Lan toả’, có thể hiểu là thâm nhập kinh tế khu vực. Phần đường đầu mối từ Trung Quốc đã làm xong. Trung Quốc đang giúp các nước làm cầu, làm đường nối tiếp.Trong 6 tuyến này thì 5 tuyến có điểm cuối cùng tại Việt Nam: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Sài Gòn. Tất cả đều là các vị trí xung yếu, trải rộng khắp Việt Nam… Ta mới có 2 đường Lạng Sơn và Móng Cái đã thấy điêu đứng, nay có thêm 5 đường đi khắp nơi, sức đâu để bảo vệ kinh tế quốc phòng … ‘Nhất thể hoá’, ‘Lan toả’, với những nội dung mù mờ. Thế có phải là một thể chế cho phép các hành lang này như khu nhượng địa nằm khắp Việt Nam? Thế là Việt Nam như con ếch nằm trong cái rọ: bắc là Trung Quốc, nam là biển, tây có hành lang này, có Miama canh gác, có cái lưỡi bò ở phía đông”.
Cho nên, dù đang bước vào tuổi 90, Trần Lâm vẫn kêu goi đi tiên phong dưới ngọn cờ chống kẻ ngoại bang đang uy hiếp quyền lợi dân tộc mình: “Xét trong phạm vi thế giới, cái họa Trung Quốc coi như cái họa toàn cầu, thiên hạ đã dứt khoát như thế. Có các động thái họ cụm lại, cụm để hạn chế Trung Quốc. Mà hạn chế Trung Quốc trước mắt phải giải quyết vấn đề Việt Nam. Ông Obama đi khắp nơi rao giảng hòa bình, cố gắng thu hẹp các lò lửa chiến tranh. Ông đang bàn thảo để khôi phục lại các căn cứ quân sự Mỹ tại Châu Á – Thái Bình Dương. Thế là vừa lên sân khấu, khúc ca đầu tiên đã cuốn hút lòng người. Giải Nobel của ông không phải là vội vã mà là đích đáng. Các nước Asean lôi kéo Trung Quốc vào bàn đàm phán để hai bên cùng có lợi, ai ngờ việc đầu tiên lại là vấn đề biển Đông. Thế là lời ông Dương Danh Di: ‘phải chống Trung Quốc nhưng Việt Nam đừng chống một mình’”.
Cụ tỏ ra rất tâm đắc với phương châm của tôi: “Việt Nam muốn độc lập, tay phải phải nắm Hoa Kỳ, tay trái phải nắm Trung Quốc”, trên cơ sở nhìn nhận rằng: ”Đối với Mỹ, sự việc khá rõ ràng: Mỹ muốn ta mạnh lên phù hợp với đường lối toàn cầu của Mỹ. Mỹ giao thương với ta vì ta là thị trường đầy hấp dẫn. Nhân dân ta thật tán đồng rộng rãi việc quan hệ chặt chẽ này và kỳ vọng nhiều ở Mỹ. Các động tác của Mỹ: ủng họ cái này, phê phán cái kia, răn đe, hạn chế thế này thế nọ, suy cho cùng cũng là những thủ đoạn ngoại giao, mang tính nhất thời. Nó sẽ đi vào quên lãng. Con đường về cơ bản hầu như không có gì cản trở.” “Người Mỹ thì rõ ràng, thẳng thắn, họ biết hàn gắn quá khứ, họ biết tranh thủ cả một dân tộc. Người Trung Quốc đã bỏ mất bao nhiêu lợi thế để có một Việt Nam đích thực là anh em. Người Trung Quốc khó hiểu quá và họ tranh thủ ít người nhưng lại làm mất lòng cả cộng đồng!”
Đầu đề các bài viết của Trần Lâm ngày một khẩn khoản, đến mức như là cuống quýt: “Phải chăng đã đến hồi bĩ cực”, “Sự thay đổi đã đến gần”, “Sự thay đổi đã gõ cửa”…
Cụ cảnh báo: “Dựa vào công an để tồn tại; không được vì một khi trong Bộ Chính trị đang có sự chia rẽ thì công an nghe ai? Công an thi hành các mệnh lệnh đơn lẻ thì được, nhưng đại cục, lúc có biến động lớn thì không thể tin được đâu. Nhân dân biểu tình, ngực đeo biển ‘Tôi là nhân dân’, tay họ cầm hoa… Liệu rồi những người cầm súng có chúc mũi xuống đất như ta đã thấy khi bức tường Berlin bị rỡ bỏ không? Đó là cảm nhận của đông người. Dựa vào Trung Quốc để tồn tại! Tôi chưa hiểu dựa như thế nào, không biết kịch bản Trung Quốc cứu sự đổ vỡ của Đảng và chính quyền Việt Nam ra sao? Tôi chỉ thấy con đường duy nhất tồn tại trong thân phận tôi đòi cho Trung Quốc. Không thể nói là tồn tại mà phải nói là đã bán đứt linh hồn cho quỷ sứ”.
Cụ khuyên nhủ: “Trước mắt 15 người khổng lồ, cái bàn cờ độc lập và dân chủ đã bày rõ: đi với Trung Quốc thì mất nước, còn Đảng, còn quyền nhưng lại là đầy tớ, đi với phương Tây thì mất quyền nhưng còn nước, chỉ mất thân phận tôi đòi. Mà đi với phương Tây thì phải dân chủ, dân chủ thì phải phát động quần chúng, giao quyền cho quần chúng. Một sự lựa chọn khó khăn cho người này, rõ ràng, dứt khoát cho người kia”[1].

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

SHOW THỜI TRANG Ở BÌNH NHƯỠNG

Xin mời xem một show thời trang ở Bình nhưỡng mà qua đây ta có thể hình dung một phần cuộc sống ở nơi đây. Điều dễ nhận thấy là sự cách li với đời sống thời trang chung của thế giới. Nó đơn điệu, cứng nhắc và gò bó vốn là đặc trưng cuộc sống tinh thần ở đây. Sự lạc hậu của trang phục, giống như của Liên xô, Trung quốc 3,4 chục năm trước cho thấy  tính bảo thủ của cuộc sống.....
   Tuy nhiên , có điểm tôi cho là hay. Đó là tính thực dụng, nghĩa là những mậu thời trang này đều có thể mặc được trong cuộc sống thừơng ngày. Nó hoàn toàn khác với các mẫu thời trang ta thường thấy trong các show tại phần còn lại của thế giới ở chỗ chúng chỉ xuất hiện trên các sàn diễn mà vắng bóng trong đời sống thừơng nhật.










  Ngày 2 tháng Mười một, báo Anh Daily Mail đưa tin rằng trong thời gian tác nghiệp tại CHDCND Triều Tiên, phóng viên ảnh Canada đã đến thăm show diễn thời trang hàng năm tại thành phố Bình Nhưỡng, một loạt các người mẫu Triều Tiên và hàng nghìn người hâm mộ show thời trang đã lọt vào ống kính của ông. Sắp đến các mẫu áo quần được giới thiệu tại show thời trang sẽ sớm xuất hiện tại các cửa hàng của Bắc Triều Tiên.










-----

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

HOÀNH TRÁNG ĐÂU PHẢI LÀ ĐIỀU ĐÁNG TỰ HÀO

      Tôi đi qua nơi xây nhà QH hàng ngày,từ khi nó bắt đầu được khởi công. Hồi hộp lắm,vì tôi mong nước mình có nhà QH to đẹp, vừa dân tộc vừa hiện đại, xứng tầm nơi làm việc của cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước đại diện cho quyền lợi của 90 triệu dân Việt nam. Nay thì tòa nhà này đã xây xong. To thì có to nhưng tôi không tìm thấy nét dân tộc ở đâu cả, mà đáng ra hơn bất cứ tòa nhà công quyền nào khác, tòa nhà này cần phải có. Ở bên trong thế nào thì chưa biết nhưng chỉ riêng việc phòng làm việc cho phóng viên chật chội, phóng viên tác nghiệp phải ngồi bệt xuống sàn đã phần nào cho thấy tâm và tầm của chủ nhân tòa nhà này. Thật đáng thất vọng.Với những chủ nhân như vậy thì có hi vọng gì cho tương lai của đất nước. Thôi thì xin mời các cụ tham quan một số tòa nhà QH các nước khác vậy.      

 Dân Đức, Hàn Quốc xếp hàng tham quan nhà QH của nước họ.


Tòa nhà QH Hàn Quốc được xây từ năm 1975, du khách có thể chụp ảnh ngay ở bàn chủ tịch QH. Còn ở Đức, khi người dân ngắm cảnh trên mái vòm nhà QH thì ở dưới, các nghị sĩ vẫn họp bình thường.




quốc hội, Hàn Quốc, Đức
Tòa nhà có 6 tầng và 2 tầng hầm
Tòa nhà quốc hội Hàn Quốc tọa lạc ở Yeouido, quận tài chính và ngân hàng của thủ đô Seoul. Tòa nhà gồm 6 tầng và 2 tầng hầm, được xây dựng từ năm 1975 với kiến trúc khá đơn giản. Có cả một trung tâm giáo dục dành cho trẻ em tìm hiểu hoạt động của quốc hội.
Tòa nhà mở cửa cho khách du lịch, dân địa phương và người nước ngoài có nhu cầu tham quan, tìm hiểu chức năng lập pháp của quốc hội.
quốc hội, Hàn Quốc, Đức
Xe miễn phí cho du khách tham quan tòa nhà
Trung tâm du khách là một nhà hai tầng thuộc khu liên hợp tòa nhà quốc hội Hàn Quốc. Từ lối vào chính, du khách có thể đi bộ hoặc bắt xe buýt mini cho chặng đường chừng 350m. Các phòng, sảnh trưng bày đặt ở tầng một, tầng hai. Du khách có thể chụp ảnh ngay ở bàn của chủ tịch quốc hội.
quốc hội, Hàn Quốc, Đức
 Trẻ em có thể được vào vai chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc
quốc hội, Hàn Quốc, Đức
Trung tâm giáo dục dành cho trẻ em đến tìm hiểu hoạt động của quốc hội
Ở một căn phòng khác, trẻ em có thể được vào vai chủ tịch quốc hội. Tại đây thậm chí có cả một trung tâm giáo dục dành cho trẻ em để tìm hiểu hoạt động của quốc hội. 
quốc hội, Hàn Quốc, Đức
Tòa nhà Quốc hội Đức
Toà nhà Quốc hội Đức (Reichstag) được coi là một biểu tượng lịch sử của nước Đức. Đây cũng là nơi du khách khắp thế giới khó bỏ qua dù phải xếp hàng dài để được vào thăm và nhìn ngắm toàn cảnh Berlin từ mái vòm bằng kính.
quốc hội, Hàn Quốc, Đức
Dân xếp hàng chờ tham quan nhà Quốc hội Đức
Tòa nhà Quốc hội Đức mở cửa cho người dân tham quan quanh năm, có bốn sảnh vào để đón lượng khách lớn mỗi ngày. Khi người dân ngắm cảnh bên trên mái vòm thì các phòng chức năng vẫn hoạt động bình thường, các chính trị gia vẫn họp bàn bên dưới. Người dân có thể nhìn thấy các nghị sĩ và phòng họp quốc hội qua lớp kính dưới sảnh vào. Nhà Quốc hội Anh có tên thường gọi là cung điện Westminster toạ lạc ngay bên bờ sông Thames ở London. Đây là nơi làm việc của Hạ viện và Thượng viện Anh.
quốc hội, Hàn Quốc, Đức
 Cung điện Westminster
Trong thời gian nghỉ hè của Quốc hội, cung điện Westminster mở cửa đón các tour du lịch vào tham quan. Các đoàn khách được tổ chức thành những nhóm có hướng dẫn viên, theo từng loại ngôn ngữ Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Ý… Du khách cũng có thể tham dự các cuộc tranh luận ở lưỡng viện hay chứng kiến những buổi điều trần.
quốc hội, Hàn Quốc, Đức
Tham quan nhà quốc hội Anh, học sinh được được khám phá các vấn đề được quốc hội thảo luận thế nào và công chúng có thể làm sao để tiếng nói của họ được lắng nghe
Dịch vụ giáo dục của Quốc hội có chương trình suốt năm dành cho học sinh, thậm chí có cả buổi hỏi đáp giữa học sinh và nghị viên. Học sinh được khám phá nhà quốc hội, tìm hiểu nền dân chủ Anh phát triển qua các giai đoạn. Các em sẽ được khám phá các vấn đề được quốc hội thảo luận thế nào và việc công chúng có thể làm sao để tiếng nói của họ được lắng nghe.
Thái An tổng hợp

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

BỆNH CHỨNG NGUYỄN CƠ THẠCH

                    
 
  Ông Ðặng Xương Hùng mới dùng một từ tôi được nghe lần đầu: “Hội chứng Nguyễn Cơ Thạch.” Ông Hùng, từng giữ chức “vụ phó” trong Bộ Ngoại Giao tại Hà Nội, hiện đang tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ, chắc ông biết rõ chuyện ông Nguyễn Cơ Thạch mất chức bộ trưởng sau Hội nghị Thành Ðô năm 1990 giữa giới lãnh đạo hai đảng Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) và Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Hai chữ “hội chứng” hơi trừu tượng không quen thuộc với đa số độc giả cho nên tôi tạm dùng chữ “bệnh chứng,” dù không chính xác bằng.
 
    Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã mắc một căn bệnh nặng, gọi bằng tên ông Nguyễn Cơ Thạch, vì triệu chứng căn bệnh phát lên rõ nhất trong thời gian hai đảng chuẩn bị Hội nghị Thành Ðô mà sau đó ông Nguyễn Cơ Thạch bị mất chức.
Ở hải ngoại, giới truyền thông gần đây không quan tâm đến Hội nghị Thành Ðô. Nhưng đồng bào trong nước còn rất thao thức về câu chuyện này. Cô Nguyễn Phương Uyên cùng các ông Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa trong phong trào “Chúng Tôi Muốn Biết” đã yêu cầu “Bạch hóa Hội nghị Thành Ðô.” Không những thế Ban Tuyên Giáo đảng Cộng Sản còn đưa ra lời giải thích về hội nghị này để các đảng viên học tập. Trong bài trước, mục này tỏ ý nghi hoặc không biết bản tuyên bố trên có thực hay không, vì thấy nó chỉ “vạch áo cho người xem lưng” mà thôi. Ông Nguyễn Khắc Mai, cựu vụ phó Dân Vận Trung Ương Ðảng mới xác nhận với đài BBC rằng: “Văn bản của Ban Tuyên Giáo... thì nó có thật đấy... Nhưng chúng tôi hoài nghi sự giải thích... không biết là có đến nơi, đến chốn không...” Muốn hiểu “Hội chứng Nguyễn Cơ Thạch” thì phải nhắc lại chuyện ở Thành Ðô năm 1990.
Năm đó, sau khi đảng Cộng Sản Liên Xô sụp đổ, Việt Cộng mất chỗ dựa chính trị, ngoại giao, cũng như nguồn viện trợ kinh tế. Như người sắp chết đuối cần một cái phao bám, Việt Cộng kết thân lại với Trung Cộng. Sau cuộc chiến năm 1979 hai đảng từng coi nhau là tử thù. Mối tranh chấp lớn trong mười năm trước là cuộc chiến tranh ở Campuchia, Trung Cộng ủng hộ Khờ Me Ðỏ còn Việt Cộng bảo trợ chính quyền Hun Sen. Biết Việt Cộng đang tuyệt vọng, muốn cầu thân, nên Trung Cộng lợi dụng; buộc Việt Cộng phải giải quyết cuộc chiến ở xứ Khờ Me theo dự án của Bắc Kinh.
Năm 1990, quân Hun Sen đang mạnh hơn; cả thế giới đều ghét Khờ Me Ðỏ vì chúng đã giết hàng triệu người dân vô tội. Nguyễn Cơ Thạch không chấp nhận “đầu hàng” ở Campuchia trong khi phe Hun Sen đang thắng. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh nghĩ khác, sẵn sàng nhượng bộ ở Campuchia, chỉ mong được kết thân với Trung Cộng. Nguyễn Văn Linh đã cho sửa lại bản Hiến Pháp Việt Nam, xóa bỏ nhưng đoạn kể tội Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của dân Việt. Linh và Lê Ðức Anh, bộ trưởng Quốc Phòng đã tự hạ mình đến gặp đại sứ Trung Cộng tại Hà Nội xin cho được gặp giới lãnh đạo Bắc Kinh.
Trong hoàn cảnh đó, Trung Cộng đã đưa ra mồi nhử, và toàn thể ban lãnh đạo Việt Cộng rơi vào bẫy. Mồi nhử là chấp nhận thảo luận chuyện lâu dài, theo lời Linh yêu cầu là “hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc.” Nhưng họ đặt điều kiện sẽ chỉ bàn chuyện đó sau khi hai bên thỏa thuận một giải pháp cho Campuchia. Việt Cộng phải chiều ý. Suốt trong thời gian hai bên bàn bạc, chuẩn bị, Trung Cộng đã bày trò chia rẽ nội bộ Việt Cộng. Họ không thèm nói chuyện gì với Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại Giao của Việt Cộng mà nói chuyện thẳng tới tổng bí thư, hoặc qua Ban Ðối Ngoại thuộc Trung Ương Ðảng.
Khi chính thức gặp Thứ trưởng ngoại giao Trung Cộng Từ Ðôn Tín, Trần Quang Cơ, cũng giữ chức thứ trưởng ngoại giao sau này viết hồi ký, ghi lại: “Tôi nhớ như in cái giọng ngạo mạn kiểu ‘sứ giả thiên triều’ của Từ...” Từ Ðôn Tín nói: “Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí...,” ý nói đã gặp Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh. Trần Quang Cơ nhận xét: “Ðây là cuộc đàm phán giữa hai quốc gia bình đẳng, làm sao Trung Quốc có thể nói đến chuyện xem xét nguyện vọng của giới lãnh đạo Việt Nam được?” Nguyễn Cơ Thạch không được đi họp ở Thành Ðô, dù là ủy viên Bộ Chính Trị và đang giữ chức bộ trưởng Ngoại Giao. Ông Trần Quang Cơ nói thẳng trong hồi ký Hồi ức và Suy nghĩ: Trung Quốc muốn ta phải thay đổi bộ trưởng Ngoại giao. Tại Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc họp ở Nữu-ước tháng 9 năm đó Ngoại Trưởng Trung Cộng Tiền Kỳ Tham từ chối không cho Nguyễn Cơ Thạch được gặp.
Cuối cùng, tại Thành Ðô Việt Cộng đã phải đồng ý công thức của Trung Cộng về một hội đồng lãnh đạo xứ Campuchia. Việt Cộng trước đó yêu cầu mỗi phe cộng sản ở Campuchia có sáu người trong hội đồng này. Trung Cộng đòi mỗi phe có sáu người, thêm người chủ tọa là Sihanouk, một ông hoàng sống thường xuyên ở Bắc Kinh, vẫn cộng tác với Khờ Me Ðỏ, tức là phe Khờ Me Ðỏ có bảy người! Bản tuyên cáo sau Hội nghị Thành Ðô ghi tám điểm thì bảy điểm chỉ nói chuyện Campuchia, điểm thứ tám nói đến việc hợp tác giữa hai đảng Cộng sản cũng nhấn mạnh tới việc Campuchia. Những yêu cầu “hợp tác bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc” của Nguyễn Văn Linh trở thành mơ tưởng hão huyền. Ông Dương Danh Dy, nguyên tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc, cho biết thêm rằng trong thời gian hội nghị Trung Cộng xếp cho Phạm Văn Ðồng, Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười ở ba biệt thự khác nhau, không thể bàn gì với nhau được.
Nhưng đau đớn cho Việt Cộng là những đòn ngoại giao của Trung Cộng sau đó. Trong hội nghị, hai bên đồng ý là sẽ cùng giữ bí mật. Nhưng ngay sau khi họp xong, Trung Cộng tiết lộ hết. Báo chí ở Thái Lan loan tin Việt Cộng đã chịu theo giải pháp của Trung Cộng ở Campuchia. Ngoại trưởng Mỹ gặp Nguyễn Cơ Thạch cũng nói rằng đã được nghe Trung Cộng báo tin đầy đủ. Việt Cộng uất ức nhưng phải im miệng, như gái ngồi phải cọc.
Người ức nhất là Hun Sen, vì thấy phe Khờ Me Ðỏ có bẩy người, mình chỉ được có sáu. Hun Sen uất hận nhất là cảnh Việt Cộng đi đêm với Trung Cộng, đâm sau lưng mình. Từ đó Hun Sen dần dần lánh xa Hà Nội, tiến gần Bắc Kinh. Vì thà đi thẳng với ông chủ lớn còn hơn đi qua một anh đầu nậu. Trung Cộng cũng bỏ rơi Khờ Me Ðỏ, sau khi bắt được Hun Sen ích lợi hơn nhiều. Cuối cùng, Việt Cộng vừa mất chân trên đất Campuchia, vừa không được Trung Cộng hứa hẹn gì về hợp tác lâu dài bảo vệ chủ nghĩa xã hội!
Hội nghị Thành Ðô là một thảm bại ngoại giao của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhưng nó cũng là triệu chứng hiện lên rõ nhất của một căn bệnh có gốc từ bên trong, gọi là “Hội chứng Nguyễn Cơ Thạch.” Ông Ðặng Xương Hùng giải thích: Hội chứng Nguyễn Cơ Thạch là việc Trung Quốc đã khống chế toàn bộ lãnh đạo Việt Nam để dần dần thực hiện những chính sách của Trung Quốc.” Hội chứng này bao gồm cảnh Trung Cộng “không chế về mặt đối ngoại, khống chế về mặt tổ chức nhân sự cũng như cơ cấu nhà nước của Việt Nam, làm sao có lợi nhất đối với Trung Quốc.” Ngoại giao, tổ chức nhân sự, cơ cấu nhà nước, cái gì cũng bị Trung Cộng khống chế. Phải thấy đây là một tình trạng bệnh trầm kha. Trên thế giới có quốc gia nào bị nước khác khống chế từ bên trong ra bên ngoài như vậy hay không?
Bệnh chứng Nguyễn Cơ Thạch khiến cho tất cả guồng máy cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam lúc nào cũng lo sợ không biết những gì mình nghĩ, mình làm, có hợp ý các “đồng chí” Trung Quốc hay không! Ông Ðặng Xương Hùng lấy thí dụ: “Nhiều nhân vật [chính quyền ở Việt Nam] sau này,... khi đụng chạm giải quyết vấn đề biên giới cũng như những vấn đề về tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Ðông cũng như thế, đều có những dấu hiệu của hội chứng Nguyễn Cơ Thạch. Tức là rất sợ những ý kiến cả nhân của mình về vấn đề quan hệ với Trung Quốc... rất sợ Trung Quốc sẽ xử lý làm ảnh hưởng đến chức vụ của mình với những quyền lợi và lợi ích của mình trong cơ cấu nhà nước [qua việc khống chế lãnh đạo cao nhất của Việt Nam].”
Ông Nguyễn Cơ Thạch đã kết luận về Hội nghị Thành Ðô: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.” Bệnh chứng Nguyễn Cơ Thạch cũng là bệnh chứng “Bắc thuộc mới.”
                                                            Ngô Nhân Dụng

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014

CHUYỆN TRIỀU CHÍNH RỐI RẮM

    Tài liệu dưới đây của ông Nguyễn Chí Trung, nguyên là thư ký của Lê Khả Phiêu, viết từ năm 2002, do « Câu lạc bộ Dân chủ » công bố ra dư luận hải ngoại tháng 12 năm 2003. Qua đó ta mới biết trong hàng ngũ lãnh đạo của VN, những ai có chủ trương kiên định « xã hội chủ nghĩa » ? những ai có chủ trương « xóa » XHCN ? Những ai chủ trương xem Mỹ là kẻ thù « chiến lược » và những ai muốn quan hệ và xem Mỹ là đồng minh ? Nhờ vậy ta mới có thể biết được phần nào « đường đi nước bước » của phía TQ. Họ đã « gài người » như thế nào ? họ đã phân hóa « nhân sự » VN ra sao ?

Nhiều người cho rằng, muốn biết nội dung hội nghị Thành Đô thế nào thì nên hỏi Đổ Mười, vì ông này có tham gia hội nghị. Theo tài liệu này, Đổ Mười là nhân tố quan trọng ủng hộ Võ Văn Kiệt (và Nguyễn Mạnh Cầm) « trụ » lại, trong khi hai ông này chủ trương xóa bỏ XHCH. Nếu vậy thì ông Đổ Mười chưa chắc đã « theo Tàu ». Muốn hỏi thì nên hỏi Lê Khả Phiêu.

Còn về vấn đề biên giới lãnh thổ, hải phận, ta cũng biết một điều quan trọng. Lãnh đạo CSVN đã nhìn nhận « có ba vùng biển tranh chấp » với TQ. Vùng biển tranh chấp thứ ba là vùng biển Trường Sa (vùng phía tây bãi Tư Chính). (Một số « học giả » của Quĩ Nghiên cứu Biển Đông trước đây chấp nhận thực tế này, vì vậy đã đề xướng chủ trương « khai thác chung » với Trung Quốc. Không ai lúc đó có thể giải thích câu hỏi tôi đặt ra là nguyên nhân vì đâu “có tranh chấp ở Trường Sa”, vì sao phải “khai thác chung” với TQ ? Tôi bị những học giả này kết án là “duy ý chí” - sic!)

Dĩ nhiên, như những tài liệu khác (chính thức hay không chính thức) xuất phát từ phía CSVN, ta chỉ có thể kiểm chứng sự thật ra sao qua một thời gian (so sánh dữ kiện và) chứng nghiệm trên thực tế. Quí độc giả thử đọc tài liệu này, sau đó rà soát lại với kinh nghiệm và thực tế để có một kết luận về quan hệ VN và TQ.  

*****

Từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, CNXH ở Đông Âu và Liên Xô xụp đổ đã tác động mạnh mẽ vào xã hội và nội bộ đảng ta, tư tưởng của chủ nghĩa cơ hội phát sinh, phát triển trong đa số cán bộ cao cấp và đảng viên. Đến đại hội đảng lần VI nổi lên từ Trần Xuân Bách, uỷ viên bộ chính trị- trưởng ban tổ chức trung ương đảng đã ngóc đầu dậy đòi đa nguyên đa đảng nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của đảng, thực hành kiểu dân chủ Phương Tây. Theo con đường TBCN. Lúc đó, TW và bộ chính trị đảng ta còn mạnh, quật ngã Trần Xuân Bách ngay. Tháng 3/1990, hội nghị Bộ chính trị- ban chấp hành đã cách chức một số trung ương uỷ viên và khai trừ đảng đối với Trần Xuân Bách.

Bước vào thời kỳ đổi mới, mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, tư tưởng cá nhân thực dụng,…. Làm cho cán bộ, đảng viên càng sa sút phẩm chất, đảng bị suy thoái. Một bộ phận đồng chí mơ hồ lập trường Phương Tây, muốn quay lưng với đảng, với chủ nghĩa xã hội,… Võ Văn Kiệt, thủ tướng chính phủ, uỷ viên bộ chính trị, xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, đòi xoá bỏ CNXH, đi theo con đường TBCN trung lập.

Cuối đại hội đảng lần thứ VII , ngày 9/8/1995, Võ Văn Kiệt đưa ra cương lĩnh trình bộ chính trị (dài 30 trang) , lúc đó anh Linh (đương nhiệm Tổng bí thư) nghiên cứu đưa vào báo cáo bộ chính trị. Đến đại hội đảng lần thứ VIII đòi bỏ định hướng XHCN, bỏ kinh tế quốc doanh, bỏ hợp tác xã, bỏ “Điều 4 hiến pháp”, thực hiện dân chủ triệt để.

Lúc đó, Nguyễn mạnh Cầm đưa ra luận điểm "không còn đấu tranh giai cấp". Mỹ không phải là đối tượng chiến lược (kẻ thù) của Việt Nam. Thế giới đang cần hợp tác, đến lúc cạnh tranh kinh tế chứ không phải coi nhau như kẻ thù (đường lối ấy phù hợp với chiến lược Châu á thái bình dương của Mỹ).

Ngày 10/10/1995. Bộ chính trị đưa vấn đề của Kiệt, Cầm nêu trên, ra thảo luận 1 ngày không xong. Ngày hôm sau đưa ra thảo luận tiếp. Lê Khả Phiêu phát biểu trước (đương nhiệm là TCCT-Uỷ viên bộ chính trị). Đương nhiên là đấu tranh quyết liệt với quan điểm sai trái trên đây của Kiệt và Cầm . Sau khi phát biểu xong, anh Linh hỏi ai có ý kiến gì phát biểu thêm ? Thì Lê Đức Anh nói: “ đúng”. Anh Linh và bộ chính trị không ai phát biểu gì cả. Kiệt xin lỗi anh Phiêu và nói : " Anh phê phán tôi như vậy là quá đáng, và phân trần: độc lập dân tộc, xoá CNXH , tài liệu đó là anh em họ viết ra, tôi chỉ ký mà thôi ".Phiêu đấu tranh tiếp: " Anh nói vậy hoá ra anh là người hai mặt à"

Ngày hôm sau tiếp tục đưa vấn đề này ra thảo luận, giữa Kiệt và Phiêu đấu tranh qua lại rất căng thẳng. Bộ chính trị cũng không ai có ý kiến gì. Đỗ Mười nói: " Còn khó quá, hãy hoãn lại, sau sẽ thảo luận". Nhưng rồi cũng tạm gác… Tiếp tuần sau đưa ra thảo luận. ý kiến của Cầm và Mười cũng lừng chừng, bảo Phiêu phát biểu trước. Cầm thấy không ai có ý kiến gì cũng làm thinh. Đến đó, bộ chính trị dừng lại không có kết luận cuối cùng. Vũ Oanh thì muốn bỏ CNXH.

Đến đại hội 9 Ban chấp hành trung ương khoá VII (từ 16 đến 23 tháng 2/ 1996), hội nghị bộ chính trị trung ương thông qua dự thảo báo cáo chính trị đại hội đảng lần thứ VII , một số TW uỷ viên buộc Đỗ Mười đưa vấn đề của Kiệt , Cầm ra thảo luận lại. Lúc bấy giờ chỉ có một số uỷ viên trung ương khu vực miền trung đấu tranh phê phán quyết liệt quan điểm của Kiệt, Cầm. Các đồng chí ấy phân tích “ nếu một quần chúng có quan điểm như Kiệt thì có thể kết nạp vào đảng được không? Nếu một đồng chí có quan điểm như vậy có bầu đi dự đại hội đảng, vào Trung ương hay không? Đây là phần xem xét tư cách đưa ra khỏi đảng”

Đỗ Mười lại thoả hiệp đứng ra bào chữa, thanh minh cho Kiệt. Mười cho đó là nhận thức lệch chứ không có vấn đề gì đâu. Đỗ Mười lúc này muốn ổn định nội bộ. Lê Đức Anh vẫn làm thinh. Nguyễn Chản phê phán Cầm là mơ hồ giai cấp. Tại sao cho Mỹ là bạn chứ không phải là thù ? Chản phân tích đập mạnh quan điểm của Cầm. Cần tự ái phản ứng, cho Chản là lên mặt dạy đời.

Bước vào hội nghị TW lần 10 trù bị lần 1. Kiệt, Anh bị thiểu số phiếu (Kiệt 20 , Anh 60 phiếu), Không đủ phiếu ở lại trung ương, đủ điều kiện để loại Kiệt. Nhưng đến hội nghị trung ương lần thứ 11, trù bị chính thức nếu bầu, thì Đỗ Mười quay ngoặt 180 độ: “ yêu cầu Kiệt ở lại Bộ chính trị, chứ một mình tôi không làm nổi"

Đại hội đảng lần thứ VIII(từ 26/6 đến 1/7/1996), Đỗ Mười: Tổng Bí Thư. Anh, Kiệt, Cầm, Phiêu ở lại bộ chính trị . Trong hội nghị trù bị , đấu tranh về nhân sự đã diễn ra rất gay cấn. Ra Đại hội, anh Linh công khai vạch thẳng hiện tượng tiêu cực, suy thoái trong đảng ở ngay trong Bộ chính trị.

Anh Linh nói : "Dột từ trên nóc dột xuống". Đỗ Mười thanh minh “ mía sâu có đốt, nhà dột có chỗ".

Họp Ban chấp hành TW lần 4 khoá 8 từ ngày 23 đến 29 tháng 12/1997 xem xét vấn đề nhân sự cấp cao và thảo luận 11 vấn đề về quan điểm, chủ trương, chính sách quan trọng. Vấn đề thứ 11 là: " khắc phục tình trạng thoái hoá trong cán bộ, đảng viên", rồi đi đến quyết định một số vấn đề về nhân sự: Kiệt, Anh, Mười còn ở lại hay nghỉ? Anh năm Công (Võ Chí Công) cố vấn đề nghị: cả 3 nên nghỉ (nhưng cả 3 đều muốn ở lại Bộ chính trị). Vấn đề là chọn Tổng bí thư thay cho Đỗ Mười?

Lúc đầu thì anh Đồng, anh năm Công giới thiệu Cầm. Nhưng sau đó có nhiều ý kiến về Cầm nên thôi không chọn. Năm Công lại giới thiệu Nguyễn Văn An. Anh Linh thì muốn giới thiệu Nguyễn Xuân Tùng, nhưng Tùng có vụ lộn xộn ở Sài Gòn nên thôi. Sau đó anh Linh xem lý lịch của Phiêu, thấy Phiêu chưa làm bí thư tỉnh hoặc thành phố lớn nào, anh Linh ngập ngừng hỏi Lê Đức Anh xem giới thiệu ai? (bấy lâu nay ta đã hiểu lầm Anh đưa Phiêu làm TBThư để điều khiển, song không phải như vậy. Vì khi Anh làm chủ tịch nước, Đoàn Khuê làm bộ trưởng quốc phòng, Anh làm Phó bí thư quân uỷ trung ương nhưng Mười giao hẹn quyền hạn cho Anh. Vì quyền hạn chức Bí thư quận uỷ trung ương hơn nên Anh muốn làm Tổng Bí Thư để kiêm luôn chức ấy).

Sau đó . Anh bị tai biến mạch máu não. Đoàn Khuê và một số cán bộ tích cực ủng hộ đưa LKPhiêu làm tổng bí thư để giữ Chủ Nghĩa xã hội.

Kiệt, Mười, Anh, mặc dù có ý kiến của anh năm Công đề nghị nghỉ, 3 vị cứ bấu víu ở lại. Khi anh Đồng xin rút khỏi cố vấn (cả anh Linh và anh Công cũng vậy), anh nói với Kiệt, Mười, Anh là không ở lại bộ chính trị thì làm cố vấn. Mười tỏ vẻ phấn khởi. Anh lừng khừng. Nhưng rồi cả 3 đều phải rút khỏi bộ chính trị để làm cố vấn.

Đến đây, tháng 12/1997 Đỗ Mười chuyển giao chức TBT cho LKPhiêu (xem tài liệu riêng). Bộ chính trị lúc này gồm: Cũ có Phiêu,TD Lương, Trương tấn Sang, Lê Minh Hương, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Văn An, Nguyễn Tấn Dũng. Mới có Khải, Ngân, Lê Minh Triết, Phan Diễn, NPhú Trọng, Nguyễn Đức Bình, Phạm Văn Trà, Tùng, Thị Mỹ.
Thế là từ tháng 12-1997 đến đầu năm 2001 Lê Khả Phiêu đảm nhiệm cương vị TBT. Phiêu làm được nhiều việc , tiêu biểu cho ý chí đấu tranh , kiên định đường lối , dương cao 3 ngọn cờ.

1.- Kiên định con đường tiến lên CNXH , giữ vững định hướng XHCN .
2.- Đối ngoại giữ vững độc lập tự chủ trong quan hệ quốc tế ( hoà nhập chứ không hoà tan ).
3.- Đối nội đề ra cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn đảng , tập trung và khắc phục sự suy thoái trong đảng , mục tiêu đấu tranh chủ yếu là chống tham nhũng . Trong vấn đề này LK Phiêu đã mạnh tay xử lý 1 số cán bộ ở cấp cao , cách chức Phó Thủ Tướng Ngô Xuân Lộc , cảnh cáo bãi chức Kiêm Tổng Giám Đốc ngân hàng và hàng mấy chục cán bộ cấp tỉnh tập trung ở phía nam .

Với tác phong giản dị, chan hoà trong quần chúng, sát dân, xông pha trong bão lũ, giải quyết kịp thời những vấn đề cứu dân trong lúc khó khăn… Nói thẳng, phân biệt đúng, sai, có uy tín đối với quần chúng. Khôi phục uy tín đng và mối quan hệ dân với đảng, dân tin đảng.

Cũng trong thời điểm cuối 2000 đầu 2001 địch + phần tử xấu trong , ngoài nước tung dư luận đòi ta thay đổi đường lối. Mỹ ép ta bỏ điều 4 trong hiến pháp, đòi gác lại CNXH, đổi tên đảng, tên nước, sửa đổi quốc kỳ, quốc ca… Song ta không ngờ và không hề nghĩ tới việc thay đổi đường lối chính trị, tổ chức lật đổ lại chính nằm trong âm mưu của 3 anh cố vấn (đến đại hội IX bột phát ta mới hiểu).

Thời kỳ đương nhiệm (trước đại hội IX) có mấy hoạt động nổi bật của TBT LK Phiêu, và cũng chính những hoạt động này bị 3 anh cố vấn lên án:

-Xử lý Ngô Xuân Lộc (bị Đỗ Mười phản đối).
-Thành lập tổ chức A10.
-Hoãn ký hiệp ước thương mại Việt - Mỹ
-Thăm TQ-Hội đàm với GiangTrạch Dân.
-Thăm châu Âu (Có Thị Dung cùng đi trong đoàn).
-Trực tiếp đối thoại với Bin Clin-Tơn.

+Chuẩn bị đại hội đảng IX

Một mặt đưa dự thảo báo cáo chính trị thu thập ý kiến tham gia c?a mọi tầng lớp nhân dân. TBT LK Phiêu đi sát cơ sở dự Đại hội đảng bộ cơ sở tận chi bộ. Không khí dân chủ tin tưởng, phấn khởi trong đảng và ngoài xã hội tăng cao.

Đồng thời trong lúc này 3 anh cố vấn cũng bàn mưu , tính kế chuẩn bị đảo chính trong đảng trước khi khai mạc đại hội .Họ lập kế hoạch , tạo chứng cớ giả , tập trung mũi nhọn nhằm lật đổ TBT LK Phiêu ( Phiêu không biết ). Ba anh cố vấn mớm cho Hữu Thọ ( trưởng ban Tư TưởngVăn Hoá TW ) tung dư luận trong cuộc họp báo tại thành phố HCM: " nhiệm kỳ đại hội đảng tới Lê Khả Phiêu nên nghỉ " . Thọ phát biểu rất vô nguyên tắc vì chưa đại hội và Bộ chính trị, TW chưa có ý kiến gì về nhân sự đại hội.

Trong lúc TBT- Lê Khả Phiêu lo chuẩn bị cho đại hội thì 3 anh cố vấn ráo riết chuẩn bị vùi dập, vu khống, lật đổ Phiêu. Trực diện vu khống, đả kích, thực hiện mưu đồ đo chính trong đảng trước đại hội IX khai mạc lần lượt diễn ra như sau:

-Sáng 10-10-2000 Phiêu mời 3 cố vấn họp để thăm dò chuẩn bị nhân sự cho đại hội IX . Phiêu nêu ý kiến 1 số đ/c nên rút ra khỏi Bộ chính trị là :Nguyễn Đức Bình , Phạm VănTrà , Nguyễn Mạnh Cầm, Tùng, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Tấn Dũng và Trần Xuân Giá ra khỏi TW, rồi nêu thôi chế độ cố vấn…

Cùng lúc này Lê Đức Anh bắt tay Trần Đức Lương, mớm: “ Lần này anh sẽ phải làm Tổng Bí Thư ". (Lương hí hửng mừng thầm).

Chiều 10-10 cố vấn ra đòn tấn công đợt 1.

-Cố vấn đưa ra đề nghị trẻ hoá TW Bộ chính trị dưới 50 tuổi ( như vậy thì Bộ chính trị chỉ còn 1, Tw còn 60 người). Nhưng 3 cố vấn cảm thấy khó thực hiện, khó có sự đồng tình.
Ngày 3-1 đến 11-1-2001 Đại Hội đảng toàn quân, cố vấn tấn công đợt 2.

Trong đại hội này LĐ Anh đột ngột buộc LK Phiêu 10 tội:

1.- Bán đất, bán biển cho Trung Quốc.
2.- Lộ bí mật ý đồ chiến lược với Giang Trạch Dân.
3.- Độc đóan thiếu dân chủ.
4.- Thành lập A10 âm mưu lật đổ nội bộ.
5.- Quan hệ bất chính với gái và quan hệ với gái gián điệp.
6.- Hoãn ký hiệp định thương mại Việt - Mỹ.
7.- Trực tiếp đối thoại với Clin-Tơn quá cứng rắn.
8.- Đề bạt Lê Hải Anh là 1 tên đào ngũ lên thứ trưởng Bộ Quốc Phòng.
9.- Địa phương chủ nghĩa (Thanh Hoá hoá, Hà Nội hoá, lôi kéo người Thanh Hoá lên trung ương).
10.- Lôi lại vụ Xiêm Riệp.

Trong lúc này LĐ Anh mắng thẳng vào mặt Phạm Thanh Ngân là đồ ngu và tập trung vu khống Phiêu về tội vô nguyên tắc trong việc thành lập A10 (tổ chức chuyên theo dõi nội bộ) và bán đất, bán biển cho Trung Quốc… làm cho toàn bộ những người có mặt trong đại hội ngơ ngác.

Phiêu và Ngân có thanh minh.

Cố vấn không kết tội Phiêu được lại buộc Phiêu nhận kỷ luật và bảo: Phiêu phải từ chức ngay. Phiêu bị đột ngột, bất ngờ nên thanh minh vài điểm xung quanh vụ A10 và nói: "Nếu tín nhiệm thì tôi tiếp tục làm, không thì thôi."

Sau đó các cán bộ lão thành cách mạng gây áp lực, động viên Phiêu làm lại không nên rút lui…

+Từ đầu tháng 1 đến đầu tháng 2-2001

Không kết tội được, chưa đánh bại được ý chí của LK Phiêu, ban cố vấn phân công nhau đi vận động để tìm kiếm sự ủng hộ của các đ/c uỷ viên TW, uỷ viên Bộ chính trị, tướng lĩnh về hưu để lật đổ các đ/c cầm đầu bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước, nhưng vẫn tập trung mũi nhọn vào TBT LK Phiêu.

Ngày 13-1-2001 Đỗ Mười gọi điện thoại cho Nguyễn Đức Tâm (nguyên UV Bộ chính trị - trưởng ban Tổ chứcTW cũ ) đang ở Hải Phòng báo sẽ gặp Tâm để thông báo một số tình hình , nhưng Tâm bận. Đến 6-2-2001 Mười mới gặp Tâm (LĐ Anh đã cho người thông báo tình hình với Tâm trước) Hỏi Tâm có ý kiến như thế nào về những điều đã được Anh thông báo? Rồi Mười phân tích phê phán việc Phiêu quyết định thành lập A10 là sai nguyên tắc. Rồi Mười trao cho Tâm một bản án LK Phiêu dài 7, 8 trang trong đó đặt vấn đề : Phiêu quan hệ trai gái với Thị Hà, thị Dung là gián điệp Mỹ… Mười còn trao cho Tâm 1 tấm ảnh nói là : "ảnh chụp được từ nước ngoài ". Mười còn vận động Tâm đòi thay đổi 50 % uỷ viên Bộ chính trị, nhất là 3 người chủ chốt: Phiêu, Lương, Khải và điều NĐ Mạnh sang công tác khác. (Xem bản báo cáo của Tâm với Bộ chính trị).

+Đòn tấn công thứ 3.

Sau 1 tháng ráo riết vận động đến 5-2-2001 hội nghị TW 11a họp trù bị. LĐ Anh chính thức đưa 10 tội của LK Phiêu ra trước hội nghị. Buộc hội nghị tập trung thảo luận đấu tranh phê phán Phiêu về quyết định thành lập A10. Cho Phiêu là lộng quyền, vi phạm nguyên tắc nghiêm trọng , định lật đổ TW& Bộ chính trị gây nghi ngờ nội bộ... Anh tiếp tục buộc Phiêu từ chức trước khi khai mạc đại hội IX.

Vấn đề thành lập A10 như sau:

Nguyên từ trước năm 1995 LĐ Anh nắm hội đồng an ninh, quyết định nâng cục II lên thành tổng cục II (TCII) , giao cho nó quyền hạn, nhiệm vụ vượt quá chức năng ( thành cơ quan tình báo chiến lược quốc gia ) lại làm cả nhiệm vụ của an ninh phản gián. Võ Văn Kiệt ra QĐ 96 sau đó NĐ Mạnh ra pháp lệnh thành lập cơ quan phối kiểm tin (gồm CA, TCII, cục bảo vệ QĐ). Để nắm vững TCII, LĐ Anh nhận Nguyễn Chí Vịnh (một thanh niên hư hỏng, con trai Nguyễn Chí Thanh) làm con nuôi nâng đỡ, ô dù đưa vào quân báo đề bạt nhanh lên đại tá phụ trách tổng cục phó TC II.

Dựa vào thế LĐ Anh, TC II ngày càng lộng hành cho nên công tác phối kiểm tin không còn chuẩn xác , nội bộ TCII phức tạp , đưa tin không chính xác và nhiều việc làm sai trái. Ví dụ tên Nguyên thư ký cho Phan Văn Khải cùng tên Tô Luyến cục 11, TCII định bắt cóc Võ Thị Thắng bức cung buộc Thắng phải nhận làm việc cho địch khi Thắng bị địch bắt trong kháng chiến để lập hồ sơ giả trị tội chị Thắng. May là ta đã phát hiện kịp thời chặn đứng lại . Ví dụ khác là, chúng đã đưa 1 số tài liệu, cán bộ của ta bị địch bắt trước đây đã đầu hàng và nhận nhiệm vụ địch giao . Họ nói tài liệu này do cơ sở điệp báo của ta từ nước ngoài cung cấp . Song thực tế tài liệu đó là ta thu được của địch từ khi giải phóng miền Nam. Trước đó Vũ Chính thiếu tướng là cục trưởng cục II (xem thêm tài liệu vương triều Vũ Chính - cha vợ của Vịnh) có đề nghị LK Phiêu đề bạt Nguyễn Chí Vịnh lên hàm thiếu tướng và đưa vào TW nhưng bị Phiêu bác bỏ. Trong lúc này có tên Kế đại tá TCII bí mật lập đường dây viễn thông liên lạc với nước ngoài bị cục bảo vệ an ninh phát hiện . Đứng trước tình hình lộn xộn đó LK Phiêu họp với Trà , Ngân định thành lập nhóm A10, thành phần gồm TC II , Cục bảo vệ an ninh, Tổng cục chính trị, thành lập một bộ phận phối kiểm tin địch, ta tránh tình trạng mạnh ai nấy báo (một việc mà 2 nguồn tin đưa ra khác nhau). Cử Trà làm tổ trưởng A10, Trà lại đề cử Ngân làm. Phiêu giao Vũ Chính làm kế hoạch. Vũ Chính đưa bản thảo cho Phiêu xem . Phiêu thấy Vũ Chính đề ra nhiệm vụ, quyền hạn A10 quá to. Phiêu xoá đoạn " theo dõi lực lượng cấp tiến trong và ngoài quân đội". Chính về viết lại thành 1 bản chính theo nội dung Phiêu đã sửa kèm theo phụ lục hướng dẫn lại để nguyên không sửa. Chính đưa cho Ngân thông qua . Ngân đem bản chính không xem phụ lục, Ngân ký chuyển cho Phiêu. Phiêu thấy Ngân ký rồi tưởng đã chữa theo ý Phiêu, Phiêu cũng không xem phụ lục, Phiêu ký. Trong văn bản đề chức danh là “Bí thư quân uỷ TW” chứ không đề thay mặt quân uỷ TW. Sau khi Phiêu ký, Chính thấy Phiêu sơ hở, sai sót rồi, Chính đem văn bản đó giao cho LĐ Anh. Anh chớp lấy lên án là Phiêu lộng quyền , độc đoán , phạm nguyên tắc không qua tập thể Quân Uỷ TW. Từ đó quy ra tội như thế là Phiêu chủ trương theo dõi cán bộ cao cấp TW, cán bộ trong và ngoài quân đội. Như thế là theo dõi cả Bộ chính trị, mang ý định âm mưu lật đổ. Và đòi Ban chấp hành TW phải kỷ luật Phiêu, buộc Phiêu phải từ chức ngay.

Qua đấu tranh thẳng thắn, có 1 số ý kiến bảo vệ Phiêu, Phiêu chỉ sơ hở về hành chính, không phạm sai nguyên tắc. Phiêu chứng minh bằng lấy bản thảo mà Phiêu đã gạch bỏ đoạn theo dõi thượng cấp đến... mà do Chính không sửa khi ký vào bản chính thức. Chỉ có thiếu sót là không xem lại kỹ phụ lục kèm theo, không phải độc đoán mà có họp thường vụ đảng uỷ quân sự TW (Phiêu, Trà, Ngân) quyết định thành lập A10 (Lúc này Trà cứ ngồi im ậm ừ để 1 mình Phiêu thanh minh). Phiêu bình tĩnh: "Thưa anh sáu Nam -LĐ Anh - Nếu anh nói tôi lộng quyền thì việc lộng quyền ấy đã xảy ra từ năm 1995 khi anh đưa cục II lên thành TCII cho nó hoạt động quá phạm vi hoạt động cuả nó đấy! Nếu anh nói tôi nghi kỵ thì anh hãy nhớ lại khi anh lâm bệnh tai biến mạch máu não, anh không chịu uống thuốc, không dám ăn. Chị khóc lóc sợ anh chết, chị chạy sang nhà tôi, nhờ tôi động viên bảo anh ăn, uống thuốc. Vậy chính anh mới là người nghi kỵ nội bộ.. từ đó...

Ngày đó không quật ngã được Phiêu về A10 thì đến ngày 6-2-2001 LĐ Anh dở thủ đoạn đểu cáng đổ cho Ngân cử người theo dõi cán bộ cao cấp trong đảng. Ngân thanh minh không có chỉ thị, văn bản nào giao nhiệm vụ đó.

Chị Mỹ, Chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra TW, kiểm tra toàn bộ hồ sơ, giấy tờ thành lập cũng như hoạt động của nhóm A10 đều không có dấu hiệu gì là theo dõi cán bộ cao cấp trong đảng như Anh vu khống. LĐ Anh đuối lý quay sang dùng thủ đoạn đê hèn hơn gán cho Phiêu là "Anh rỉ tai cán bộ phụ trách A10 theo dõi". Phiêu phản bác lại... Trần Đức Lương ôm mộng sẽ được làm TBT (Như LĐAnh mớm) Lương trực tiếp chất vấn thiếu tướng cục trưởng bảo vệ an ninh “ Phiêu, Ngân có rủ đến anh không?” và đe doạ “nếu anh không nói tôi kỷ luật anh”. Trước hành động bỉ ổi của Lương thiếu tướng An phản bác vì sự thực không có. LĐ Anh đã dùng ngón cuối cùng là gọi Nguyễn Chí Vịnh làm chứng là Phiêu và Ngân có rỉ tai y. Chứng cứ như vậy Phiêu, Ngân thanh minh sao được. Thấy sự thực là chúng vu khống nên hội nghị bỏ ngỏ, cho qua không kết luận gì. Hội nghị TW 11a giải tán.

Sau Hội nghị TW 11a LĐ Anh phái Sơn thư ký riêng đến từng nhà cán bộ cao cấp lão thành từng là UV Bộ chính trị, UVTW, một số tướng lĩnh quân đội về hưu như Chu Huy Mân, Trần văn Quang, Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Quyết, Tố Hữu, Đồng Sỹ Nguyên... Đến Nguyễn Đức Tâm, Sơn nêu tội Phiêu về vụ A10 và trao bản vạch tội Phiêu dài 6,7 trang để thuyết phục và nói các đ/c lão thành ủng hộ lật đổ Phiêu. Song tất cả đều khước từ và có đơn tố giác phản bác gửi đến Bộ chính trị và TBT.

Đồng thời sau hội nghị 11 a việc vu khống, đả kích của 3 vị cố vấn dùng lật đổ, đảo chính trong đảng trước hết là hạ bệ LK Phiêu lan ra khắp nước. Trong cán bộ lão thành cao cấp, nhiều nơi nhiều cá nhân, tập thể của chi bộ biên thư , kiến nghị dồn dập gửi về TW, BTL , Bộ chính trị, bảo vệ đoàn kết, bảo vệ TBT LK Phiêu, lên án cố vấn chủ yếu là LĐ Anh, đòi kỷ luật cố vấn thông báo cho toàn đảng biết không thể bỏ qua. Như vậy trải gần 1 tháng đến hội nghị Tw 11 b khai mạc vẫn tiếp tục đấu tranh.

+LĐ Anh tấn công Phiêu lần thứ 4.

LĐ Anh nêu vụ Phiêu đi thăm TQ đối thoại với Giang Trạch Dân là phạm tội bán đất , bán biển, là lộ bí mật chiến lược của đảng, là độc đoán. Đi về không báo cáo với Bộ chính trị, không cho Nguyễn Mạnh Cầm cùng dự họp là biểu hiện sự thậm thụt sao đó...

Sự thật vụ việc này là: Xuất phát từ phía TQ, GT Dân mời Phiêu sang thăm. Ta thăm dò ý của họ chỉ TBT gặp TBT? Họ trả lời mỗi bên 4 người: TBT, thư ký TBT, trưởng ban đối ngoại TW, chánh văn phòng TW. Ta cũng muốn nhân dịp này thăm dò thái độ của TQ đối với Mỹ, đối với CNXH. Kế hoạch đi thăm do ban đối ngoại TW làm, Mạnh Cầm thông qua… Khi vào phòng họp do sơ xuất Cầm bước vào phòng bị ngăn lại ngay vì không dúng thành phần quy định .

Nội dung bàn ta thoả hiệp chữa lại cột mốc biên giới ở vĩ tuyến… do TQ yêu cầu. Họ lập luận trước kia do công nhân đưa cột mốc không tới đỉnh núi đành bỏ lai sườn núi, bây giờ đưa cột mốc lên đỉnh núi.

Về biển : Hai bên đấu tranh cuối cùng đã đi đến thoả thuận xác định 3 vùng biển, ở ngoài khi Vịnh Bắc Bộ là vùng đánh cá chung của cả 2 bên.

Quan hệ với TQ ngày nay rất tế nhị. Ta ở cạnh một nước to, không thể căng với họ vì họ sát nách ta. Khi LĐ Anh phê là Cầm không được vào dự là thậm thụt ,Phiêu chứng minh kế hoạch đi hội đàm do Cầm thông qua, không dự vì không đúng thành phần do TQ quyết định. Khi họ nói độc đoán về không báo cáo Bộ chính trị, Phiêu chứng minh, có Khải làm chứng. Khải nói: "Lúc đó Phiêu có báo cáo Bộ chính trị", Phiêu đem văn bản ngày 4 có báo cáo với Bộ chính trị, có LĐ Anh dự, ngày 28 mới đi (Cầm ngồi đó ậm ừ). Phiêu chứng minh khi về có báo ,giở văn bản ngày 1-5 Phiêu báo cáo trong phiên họp Bộ chính trị, tập văn bản có ghi; Phiêu chỉ thị cho Trần Đình Hoan triển khai (Hoan ngồi đó ậm ừ).

Đuối lý LĐ Anh lại quay sang phê bình Phiêu tại sao tranh chấp với TQ vùng biển đông lại không đưa ASEAN vào? Phiêu giải thích: "Khu Tư Chính tây Trường Sa là thuộc chủ quyền của ta, chỉ tranh chấp với TQ không dính gì đến ASEAN . Nếu thực hiện đa phương đưa ASEAN vào thì ta không còn chủ quyền 2 khu vực ấy. Nên vấn đề này chỉ có song phương, không đa phương, mà trong nguyên tắc đa phương có song phương…” Anh đuối lý. Anh tiếp tục quay sang chỉ trích và kết tội Phiêu làm lộ bí mật quốc gia. Tại sao lại cho GT Dân biết ta xác định Mỹ vẫn là đối tượng chiến lược (kẻ thù).

Vấn đề này thực chất như sau:

Khi Phiêu gặp Phi đen tại Cuba 2 bên thống nhất thế nào cũng phải giữ TQ lại, đừng để TQ vượt đà… Phi Đen nói: “GT Dân thì được, còn Chu Dung Cơ chưa rõ… cần theo dõi xem sao …" Chu Dung Cơ khi sang thăm ta, ngồi trên chuyến chuyên cơ có bộc lộ với ta "năm 1997 đã cho ta là sai" ta cũng không muốn TQ thoả hiệp với Mỹ nên nhân chuyến đi này xem TQ xác định đối tượng chiến lược như thế nào.

Qua đàm đạo GT Dân nói: “Mỹ chiả 2 tay tôi phải chiả 2 tay, phải cảnh giác, phải nắm chắc LLVT”. Rồi Dân rỉ tai Phiêu. "Mỹ là đối tượng chiến lược của TQ, không phải là đối tác”. Do đó Phiêu mới nói: "Chúng tôi vẫn coi Mỹ là kẻ thù". Chứ không phải cố ý làm lộ bí mật quốc gia gì cả. Các cố vấn im.

Họ quay sang tấn công đòn thứ 5 mạnh hơn.

LĐ Anh, Đỗ Mười xúm nhau tố Phiêu quan hệ với gái gián điệp, tình báo Mỹ khi đi công tác sang Châu Âu, thị Hà, thị Dung và 1 phụ nữ khác nữa đồn là tình báo của Mỹ và nước ngoài. Đỗ mười đưa bức ảnh ghép Phiêu và Hà, 1 bức Phiêu ngồi cạnh thị Dung ở Pháp để làm chứng.

+Sự thực về Phiêu quan hệ với thị Hà như thế nào? Ra sao?

Thị Hà là con gái của Đặng Kinh ở Hải Phòng, trong chiến tranh Kinh là thủ trưởng của Phiêu. Trong chiến dịch tiến công vào thành cổ Quảng Trị khi địch oanh tạc vào vị trí của Kinh thì Phiêu lấy thân mình che chắn cho Kinh. Từ đó gia đình Kinh gắn bó với Phiêu. Thị Hà và Phiêu có cảm tình, dan díu… Nhưng khi Phiêu về Tổng cục chính trị, vào Ban Chấp Hành TW có đưa vấn đề này ra kiểm điểm. Phiêu đã cắt quan hệ, các cố vấn, cơ quan quân sự (có lẽ là cục II ) ghép ảnh Phiêu với Hà rồi đưa cho Vợ Phiêu xem để kích động ( thật bỉ ổi !) rồi đưa ra hội nghị TW vu khống Phiêu. Nhưng thị Hà thời kỳ Phiêu làm TBT, Hà vẫn rêu rao khoe khoang TBT Phiêu vẫn còn quan hệ yêu đương với cô ta. Phiêu đành chịu. Sự việc gác lại đó. Nhưng Hà đâu có phải là gián điệp.

Thị Dung là nhân viên 1 tổ chức kinh tế, đơn vị cử đi trong phái đoàn Phiêu sang Châu Âu. Trong lúc đang hội đàm tại Pháp, có cả đoàn ta, đoàn quốc tế, có Dung đi cùng. Cố vấn sử dụng (TC II) in ảnh bôi lem mặt những người xung quanh chỉ còn lộ ra hình Phiêu và Dung. Họ đưa ra trước hội nghị TW (quá bỉ ổi!) để chứng minh Phiêu ra nước ngoài lén lút quan hệ với gái gián điệp. Lúc đó Nguyễn Mạnh Cầm không còn nén được nữa bật đứng lên phản bác: “Hôm đó có tôi ở sau lưng anh Phiêu, tại sao xoá mặt tôi đi”. Thế là thủ đoạn vu khống bị lật tẩy hoàn toàn.

Chưa dừng ! Nguy hiểm hơn. Họ lại quay sang tấn công đòn thứ 6.

LĐ Anh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt (Xuất chiêu đủ 3) LĐ Anh, Đỗ Mười cho rằng Phiêu trực tiếp đàm thoại với Clin-Tơn như vậy là quá cứng rắn, quan hệ với Mỹ sẽ khó khăn… VV Kiệt phát biểu với giọng thống thiết “Đ/ c Phiêu làm như vậy thì công lao chúng tôi đặt quan hệ với Mỹ lâu nay (mở cấm vận, quan hệ bình thường, các nước của Mỹ đầu tư, cho vay) coi như công dã tràng xe cát? Rồi đây sẽ hạn chế đầu tư, cho vay, công cuộc xây dựng kinh tế, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ khó khăn (luận điệu này đương nhiên đã tác động tâm lý nhiều người đâm lo, có sức thuyết phục rộng rãi các nghành, các cấp làm kinh tế… thật là nguy hiểm và nguy hại nếu đảng ta không kịp thời đấu tranh)”.

Còn Đỗ Mười, Trần Xuân Giá hùa vào phê phán quyết liệt LK Phiêu, lên án tiếp tội lỗi của LK Phiêu làm trì hoãn ký kết hiệp định thương mại. Cố tình gây cản trở Mỹ và các nước mở rộng đầu tư.

+Hai sự kiện hư thực, đúng sai như thế nào?

1.- Việc tiếp xúc với Clin-Tơn TT Mỹ.

Khi Clin-Tơn tiếp xúc và nói chuyện với giáo viên, sinh viên tại trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội với giọng trịch thượng, tiếp xúc với 1 số nơi nhằm xoá nhoà tội ác, đánh đồng ta như Mỹ. Chính Phiêu muốn tỏ cho Clin Tơn biết rằng: "Lịch sử là không thể phủ định, không thể xoá nhoà, không thể đánh đồng người bị xâm lược với kẻ đi xâm lược, lên án Mỹ chia cắt nước ta, gây chiến tranh xâm lược ta chứ không phải nhân dân ta gây chiến", Làm cho Clin Tơn không được chơi trội, gây mơ hồ ảo tưởng… nội dung ứng xử của Phiêu đã được cán bộ, đảng viên nhất trí, các cụ hưu trí và nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình, hả dạ. Tại sao 3 cố vấn và Giá lại buồn, lại lo và phê phán?

2.- Vấn đề ký hiệp định thương mại Việt Mỹ.

Ban đầu Mỹ tự thảo bằng tiếng Anh hoàn toàn. Nguyễn Tấn Dũng và Mạnh Cầm ở lại Mỹ vội ký tắt rồi mang về báo cáo với Phiêu và ngày 27-7-1999 (Sau này ta mới biết lúc ấy Cầm và Dũng xin cho con học ở Mỹ, được Mỹ nhận cấp học bổng). Phiêu ngầm đưa cho các trí thức chuyên gia kinh tế tham khảo và hỏi ý kiến anh Giáp vì trong văn bản có 40 điều hoàn toàn có lợi cho Mỹ, bất lợi cho ta. Phiêu đưa Bộ chính trị, đa số đồng ý hoãn - chưa ký.

Ngày 1-4-1999 LĐ Anh thúc ép Phiêu, bảo Phiêu phải cho ký. Phiêu bảo phải chờ ý kiến tập thể Bộ Chính Trị. LĐ Anh hùng hổ nói " ù có tập thể cũng phải ký”. Phiêu bực mình đáp "Anh nói như vậy là vô nguyên tắc". Trong khi họp BCT để bàn thì chỉ có Tấn Dũng (Phó Thủ Tướng) và Cầm có ý kiến phải ký. Phan Diễn ngập ngừng. Phiêu gạn hỏi Diễn “Anh đồng ý ký hay không.” Diễn ấp úng: “ờ, ờ thì ký." (Sau này ta mới biết con trai Lê Đức Anh được Mỹ cấp học bổng du học tại Mỹ)’

Sau đó ta buộc Mỹ phải xuống thang, chịu sửa lại 1 số điều khoản bất lợi cho ta, ta mới ký bằng cách ta gợi ý cho tổng thống Pháp Chiracs mời cho ta gặp Mỹ tại Pháp trong chuyến công cán Châu Âu. Phiêu gặp Clin Tơn qua hội đàm ta hé mở ý tứ mập mờ cho Clin Tơn ngầm hiểu " Nếu Mỹ không chơi với ta thì ta chơi với EU, Nhật, TQ. Từ đó Mỹ sửa và ta chịu ký.

Trong Bộ Chính Trị thừa nhận việc ta hoãn ký hiệp định TM Việt-Mỹ , ứng xử với Clin Tơn là đúng. Nhưng khi cố vấn đưa ra hội nghị 11b phê phán, quy tội cho Phiêu thì tất cả BCT ngồi đó làm thinh để một mình Phiêu đối đáp tại sao?). Chứng tỏ ban cố vấn có liên quan thao túng Bộ Chính Trị.

Chưa thôi! Họ tập trung vơ vét ra đòn thứ 7.

Họ quay sang phê phán Phiêu tại sao sử dụng Nguyễn Chí Trung làm thư ký riêng. Họ vu khống là lý lịch Trung không rõ, nào là thành phần trên, gia đình thuộc lớp trên, quan hệ chính trị xấu (trước kia) nhưng không phải vậy.

Đến khi chị Mỹ phát biểu tổng hợp và kết luận 3 vụ đều là vu khống hiểm độc của ban cố vấn. Chị Mỹ chất vấn: “Những vấn đề các cố vấn đưa ra là gốc ở đâu? Vấn đề A10, vấn đề TQ, vấn đề quan hệ với gái gián điệp chả phải là vấn đề gì cả. Chị Mỹ cho là vu khống.
Họ lại quay sang vu khống chị Mỹ (Chủ Nhiệm Uỷ Ban Kiểm Tra TW). LĐ Anh trực tiếp tố cáo chị Mỹ là ăn hối lộ với Lê Minh Hương. Đ/c M Hương vặn lại: “Anh nói chắc không?” LĐ Anh nói chắc, giả đò về lấy sổ tay ra có ghi mấy dòng để chứng minh. Hương báo với Phiêu. Phiêu cử người đi xác minh là không có. Hỏi lại Anh. Anh từ chối là không có tố cho chị Mỹ . Hương nói: "Chính anh báo với tôi mà! Anh Anh?"

Những vấn đề khác như đề bạt Lê Hải Anh, vấn đề Xiêm Riệp, địa phương chủ nghĩa đều là chuyện vụn vặt, hội nghị không ai bàn đến làm gì.

Cuối cùng hội nghị 11a, 11b đều không có cơ sở, lý do gì để kết tội, thi hành kỷ luật đối với LK Phiêu.

Phiêu còn 2 việc tồn đọng khó thanh minh.

1 là vụ rỉ tai Vịnh, 2 là việc quan hệ với Hà.

Nhưng còn nhiều vấn đề đối với mấy ông cố vấn mà chưa nói được hết. Ví như: 

1.- Vấn đề lịch sử chính trị của Lê Đức Anh: Cho con đi học ở Mỹ. Trước đây Anh đồng ý 1 bộ phận chuyên môn của Mỹ ở lại bệnh viện 108 để nghiên cứu (Đoàn Khuê và LK Phiêu bác bỏ).

Tình hình bạo loạn ở Tây Nguyên thì Anh nói là chuyện trẻ con, chúng nó làm gì lấy được Tây Nguyên. Phiêu lại nói: "Đó là vụ bạo loạn chính trị đằng sau là Mỹ - dẹp ngay".

LĐ Anh nhận tiền Đặng Đình Loan (Phần tử xấu) tên Bích (Phần tử yếu kém bên bộ công an), tên Tư Không ở tp HCM (cũng loại xấu) đưa vào làm việc ở bộ phận thư ký của Phiêu bị Phiêu bác. Trước đây LĐAnh sử dụng và hậu đãi Trần Đình Hoan để y làm loa nói xấu anh Giáp. LĐAnh còn thuyết Ngô Hoàng thứ trưởng Giao Thông nhận thằng Hà là con trai của mình làm Vụ trưởng quốc tế dần dần vào TW. Hoàng xin ý kiến Phiêu, Phiêu bác (LĐAnh giận lắm). Sau đó LĐAnh đề nghị đưa Hà lên phó Giám Đốc Đại Học Bách Khoa, Phiêu nói không được.

LĐ Anh đưa toàn bộ phần tử xấu vào cương vị trọng yếu trong tổ chức đảng và nhà nước, còn ép đưa 1 số kém vào TW. Khi Anh đòi đưa Kiên (Tư Lệnh Quân Khu 7 ra thay Trà, Phiêu không đồng ý. Anh lại giữ Trà ở lại Bộ trưởng Quốc Phòng. Anh phê bình Phiêu là không tình nghĩa với Trà (Phiêu định đổi người khác thay Trà). LĐ Anh không từ ngõ ngách nào đều vu khống, moi móc nói xấu vấy lỗi cho đ/c LK Phiêu.

Còn việc con trai LĐ Anh do Mỹ nuôi học bên đó bây giờ ta mới biết! và LĐ Anh kết nạp đảng năm nào, ngày nào, ai giới thiệu, ở đâu? Lại có tuổi đảng 60 (nghe nói có cụ đã ra tận Bộ chính trị TW tố cáo Anh).

2.- Còn Đỗ Mười tại Hà Nội có ông bạn thân thiết hỏi tại sao vừa rồi anh làm như vậy (Vu khống lật đổ Phiêu) Mười trả lời: "Nó lật tôi, tôi lật lại" (Một câu trả lời "tuyệt hay" của vị nguyên TBT, nguyên cố vấn BCHTW. khó có câu nói nào ngắn chỉ 6 từ mà lột tả được đúng, chính xác cả khẩu khí và bản chất thực cuả Đỗ Mười, đồng thời cũng là khái quát bản chất, khẩu khí thực của đại đa số những vị có chức có quyền trong ĐCSVN hiện nay như vậy) Rồi Mười lại trách: “Bấy lâu nay vợ chồng Phan Văn Khải đến thăm tôi chứ Phiêu nó có đến thăm tôi bao giờ đâu”. (Khi Phiêu xử lý Ngô Xuân Lộc Mười phản đối vì Lộc ân tình với Mười, do Mười cất nhắc lên. Chính Mười cắm Phạm Thế Duyệt vào Bộ chính trị, sau khi thôi Bí thư thành uỷ Hà Nội lại làm thường trực Bộ chính trị...

+Hội Nghị Ban Chấp Hành TƯ lần thứ 12.

Khai mạc gồm 165 đoàn đại biểu (ta hy vọng các đoàn đại biểu địa phương lên sẽ thay đổi cục diện. LK Phiêu sẽ được đa số ủng hộ tái cử. LK Phiêu chưa tuyên bố rút thì Trần Xuân Giá đã phê phán Phiêu quyết liệt về hoãn ký hiệp định thương mại và cứng rắn với Clin Tơn... Khi được các nước đầu tư để phát triển kinh tế (đã làm lung lạc các đại biểu về dự dại hội). Tiếp đến Mai Thúc Lân lên gân sỉ vả LK Phiêu: "Anh là đồ lật lọng. Tại sao trước đây anh nói rút lui... bây giờ lại không rút tên trong danh sách...". (Trước hội nghị TW 12 Anh mời Lân đến dùng cơm thân mật và Anh nói với Lân: "Lần này anh sẽ vào Bộ chính trị và làm chủ tịch Quốc Hội". Lân hí hửng quay sang chống Phiêu).

Khi vào chương trình ứng cử vào Bộ chính trị TW trong 165 đoàn đại biểu thì có 155 đoàn giới thiệu LK Phiêu. Song lấy phiếu thăm dò cá nhân (sự thật họ làm sao không rõ do Phạm Thế Duyệt chủ trì) họ công bố chỉ có 155 đại biểu (trên tổng số hơn 1000) giới thiệu LK Phiêu? Đến lúc này Phiêu tự thấy nếu bầu cử trúng vào TW cũng thấp, vào Ban Bí thư, Bộ chính trị càng khó. Nếu trúng khó làm nên Phiêu rút ra cho an. Bằng uỷ nhiệm cho Đ/c Phan Văn Khải thông báo Phiêu rút khỏi danh sách đề cử.

Đến giai đoạn bầu TBT. Danh sách dự kiến đưa ra: Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh.
Nguyễn Minh Triết phản đối Trần Đức Lương. Triết nói: “ở miền Nam, miền Trung không ai tín nhiệm anh Lương đâu”. (Gần đây vợ chồng Lương sửa lại nhà ở trên 1 tỷ, còn chuyện gì nữa mà Triết chỉ trích Lương ta không rõ).

Thế là chỉ còn lại 1 mình Nông Đức Mạnh. Mạnh từ đầu chí cuối luôn từ chối vì trình độ năng lực. Nhưng khi Mạnh tham khảo ý kiến 1 số đ/c lão thành trung kiên thì các đ/c ấy khuyên Mạnh: " Nếu tình huống xấu thì anh phải đứng ra nhận”. Mạnh mới nhận đề cử vào cương vị TBT.

Thế là mưu đồ đảo chính Phiêu thành công, ban cố vấn, đồng thời ghế cố vấn của các vị cũng bị xoá bỏ. Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt bị lực lượng quần chúng chỉ trích, cố xin lỗi theo kiểu đỡ đòn xuê xoa. Còn LĐ Anh nói tôi làm vậy là để tự kiêu binh, LĐAnh còn rất ngoan cố. Kiệt tuy buông lời xoa dịu nhưng còn biểu lộ ý đồ xấu xa, Kiệt nói: " Tôi còn đi xa hơn nữa...?"

Đến đây ta có thể tạm kết luận:

Rõ ràng Bộ chính trị, BCHTW đều bị ban cố vấn vừa khống chế vừa thao túng, là do các cố vấn vừa lộng quyền vừa vô nguyên tắc và quá cá nhân. Bởi vì nhiều vấn đề Phiêu bị vu khống vô nguyên tắc. Nhiều người trong Bộ chính trị biết và thấy bị oan nhưng không dám đứng ra bênh vực, minh chứng cho Phiêu mà ngồi làm thinh như Phạm Văn Trà (vì có đến 5 toà nhà 3 bà Vợ) Quân đội không thích, bị kỷ luật khiển trách (đưa lên đài) thế mà vẫn cứ thừa nhận là đủ tư cách đại biểu bầu vào Tw!.

+Nguyên nhân sâu xa từ đâu?

-Đó là vấn đề đấu tranh giữa 2 quan điểm và 2 đường lối. Đỗ Mười thoả hiệp với Võ Văn Kiệt từ đầu.

-LĐ Anh lộng quyền muốn thống lĩnh quân đội , biến quân đội theo ý đồ riêng của mình, xích gần với Mỹ (bởi vì lịch sử chính trị của Anh còn mờ ám, không phải là đảng viên.

-Sau Võ Văn Kiệt là Trần Bạch Đằng có quan hệ rất phức tạp.

-Mỹ đang hô hào hỗ trợ muốn ta trượt nhanh vào cải cách tư nhân hoá. Ta hiện đang xoay nền kinh tế theo hướng đó. Thực tế là đang đẩy mạnh cổ phần hoá...Vấn đề đầu tư cho kinh tế quốc doanh trước đây gần 1 ngàn mấy trăm tỷ nay chỉ còn 96 tỷ thì còn làm ăn gì được nữa? Nền kinh tế của ta đang có nhiều cơ hội hội nhập và cũng đầy thử thách cam go.

+Kết Luận.

Phải chăng đánh đổi Lê Khả Phiêu là đánh đổi đường lối chính trị, tổ chức, đánh đổi ngọn cờ: Độc lập dân tộc và CNXH.

Đây là cuộc đấu tranh một còn một mất giữa 2 con đường XHCN & TBCN của đảng ta.

Bởi vì lực lượng hữu khuynh đang chiếm đa số trong đảng. Số tích cực, kiên định đường lối XHCN chỉ chiếm 1/3 trong Bộ chính trị, 1/3 trong TW, 1/3 dưới chi bộ và các cấp.

Nền nhà ta chưa vững chắc, tư tưởng chính trị chính thống của ta chưa kiên định, nền kinh tế thị trường luôn có 2 mặt.

Những sự kiện tóm lược trên đây là tình hình đã qua quá đau lòng và khó hiểu.

Ta mong rằng từ nay về sau và mãi , không xảy ra và thực hiện đúng di chúc Bác Hồ.

Tóm lược Xong đêm 21-7-2002

Nguyễn Chí Trung   ( Nguồn : Blog Trương nhân Tuấn )